Ý nghĩa của chế biến thuốc cổ truyền

358 27/08/2019
Skhoe24h.com - Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ sau chế biến, các thành phần hóa học trong vị thuốc đều có sự biến đối lớn. Đa phần có sự biến đổi về hàm lượng. Ví dụ các dược liệu chứa tinh dầu, sau khi chế biến, hàm lượng tinh dầu giảm đi rõ rệt, trắc bách diệp...

Ý nghĩa của chế biến thuốc cổ truyền

Làm cho thuốc tinh khiết.

- Trước hết đúng bộ phận dùng: Phải loại bỏ những bộ phận không có tác dụng. Ví dụ: tỳ bà diệp hoặc, nam tỳ bà diệp (lá hen) phải lau sạch lớp lông màu đỏ sạch và màu trắng, nếu không khi uống, chính lông này sẽ kích thích cổ họng, gây ho.

Ma hoàng cắt bỏ rễ, vì rễ có tác dụng đối lập với vị thuốc ma hoàng. Rễ ma hoàng có tác dụng cầm mồ hôi; còn ma hoàng lại làm ra mồ hôi, Liên kiều cần bỏ hạt; kim anh cũng bỏ hạt v.v... Tuy nhiên đôi khi có những bộ phận bỏ đi của vị thuốc này lại là nguồn nguyên liệu cho việc chữa bệnh khác (rễ ma hoàng, hạt liên kiều...).

- Thuốc cần phải xử lý sạch trước khi dùng Địa long (giun đất); mổ rửa sạch đất trong bụng phơi khô, sao vàng. Rắn, tắc kè, mổ bỏ hết phủ tạng (trừ mật rắn rất quý), dùng cồn hoặc cồn gừng rửa cho sạch, cóc phải lột bỏ da, rửa sạch nhựa, loại hết trứng (ngay cả trứng bị sa và nằm sâu trong các bắp cơ ở chân cóc). Các loại thuốc nói chung cần qua khâu rửa sạch. Như vậy làm cho thuốc sạch, đúng bộ phận dùng là yêu cầu hàng đầu để có được hiệu quả cao trong điều trị.

Làm cho thuốc bảo quản được tốt hơn.

Sau khi phơi sấy, góp phần ổn định dược liệu tránh được thuốc bị men mốc. Cúc hoa, vị thuốc quý, nếu không qua sấy sinh, chỉ vài ngày hoa cúc bị mốc đen, và rụng cánh hoa, hết thơm; và tác dụng chữa bệnh kém và không tác dụng nữa.

Ta biết rằng trong rất nhiều vị thuốc cổ truyền, có chứa các hợp chất flavonoid có tác dụng chữa bệnh tốt: Tác dụng thanh nhiệt, tác dụng chống oxy hóa (antioxydant)... Song cũng rất dễ bị men, nằm ngay trong vị thuốc thuỷ phân, dẫn đến tác dụng điều trị giảm dị, hoặc hết tác dụng.

Ví dụ:

- Hợp chất rutin, có trong hoa hoè, trong điều kiện ẩm, sẽ bị men rutinase thuỷ phân biến rutin thành quecxetin. Hoa hoè bị xám đi.

Để khắc phục tình trạng này cần phơi khô hoa hoè ngay sau khi thu hái, tốt nhất là sau khi phơi khô cần sao nhanh để diệt men.

- Hợp chất chính đưa lại tác dụng của hoàng cầm, cũng bị nhanh chóng phân huỷ, trở thành thành phần không có tác dụng làm vô dụng hóa vị thuốc hoàng cầm.

Sản phẩm oxy hóa cuối cùng có màu xanh gi đồng, và không có tác dụng về mặt sinh học. Chính vì lý do đó, việc chế biến hoàng cầm, cần được tiến hành thật tốt. Việc bảo quản hoàng cầm cần được tiến hành trong điều kiện khắt khe về độ ẩm và nhiệt độ, đặc biệt về độ âm. Ngay khi chế biến hoàng cầm nếu ngâm nước lạnh để làm mềm, cũng làm men dễ thuỷ phân hoạt chất. Do đó để có hoàng cầm đạt tiêu chuẩn, cần tiến hành đồ trong thời gian ngắn; vừa có tác dụng làm mềm vị thuốc vừa có tác dụng diệt men.

Chế biến làm cho vị thuốc giòn, dễ tán nghiền.

Dưới tác dụng của nhiệt độ khi sao, nấu... cấu trúc của dược liệu bị phá vỡ; đặc biệt khi sao (vị thuốc xốp ra, phồng lên...) làm cho liên kết giữa các tế bào kém đi. Do đó việc xay nghiền dễ hơn. Ví dụ: Xuyên sơn giáp rất cứng dai, sau khi sao cát, vị thuốc phồng lên, rất dễ tán. Cao ban long, có thể chất dẻo, dai sau khi sao với bột văn cáp, các miếng cao phồng đều, xốp dễ xay vụn. V.V....

Chế biến làm vị thuốc dễ dàng chiết xuất các hoạt chất.

Sau khi sao, đặc biệt sao vàng hạ thổ, khiến bề mặt vị thuốc căng phồng, nứt nẻ; điều đó giúp cho việc chiết xuất (sắc, hãm, ngâm, ngấm kiệt.,) thuận lợi hơn, vì dung môi chiết xuất (nước hoặc cồn) dễ ngấm sâu vào vị thuốc, hoà tan các hoạt chất, kéo chúng ra khỏi vị thuốc do đó hiệu quả trị liệu tốt hơn.

Làm tăng tính quy kinh của vị thuốc.

Như ta đã biết các vị thuốc đều quy vào một hoặc nhiều kinh nhất định, Tang bạch bì quy kinh phế, Hà thủ ô quy 2 kinh can thận, Ma hoàng quy 3 kinh, phế tỳ, bàng quang, Cam thảo quy 12 kinh ...

Khi chế biến thường qua các khâu sao, trích với phụ liệu, điều đó giúp cho vị thuốc tăng tính quy kinh của nó. Ví dụ:

Bạch truật, Cam thảo tăng tính quy kinh tỳ sau khi trích mật ong; Hà thủ ô đỏ tăng tính quy kinh can thận, sau khi nấu với đỗ đen...

Làm thay đổi tính vị, tác dụng.

Nhiều vị thuốc sau khi chế biến làm tính vị của nó thay đổi và kèm theo là tác dụng cũng thay đổi.

Điển hình là vị sinh địa, vị đắng, tính hàn, công năng lương huyết. Sau khi chế với rượu, sa nhân gừng dưới tác dụng của nhiệt độ (nấu), ánh sáng khi phơi đã làm cho vị của nó trở thành ngọt và tính trở nên ấm (ta có vị thục địa). Thục địa lại có tác dụng bổ huyết. Hàm lượng đường tăng lên hơn 2 lần. Ở sinh địa hàm lượng đường toàn phần 15% ở thục địa 36%.

Nhiều chỉ số khác cũng biến đổi; có thể quan sát ở chuyên đề chế thục địa.

Sinh khương vị cay tính ấm, công năng phát hãn giải biểu hàn dùng trong bệnh cảm mạo phong hàn sốt cao, ho. Song nếu đem nướng chảy ta có thán khương, vị ít cay hơn, do mất bớt lượng tinh dầu; đồng thời lại có tác dụng chữa đầy bụng, đau bụng buồn nôn.

Làm tác dụng của vị thuốc tàng lên.

- Thảo quyết minh vì sao có tác dụng tẩy mạnh, mùi nồng, khó uống.

Sao vàng tác dụng nhuận hạ, hạ áp, dùng trong bệnh táo bón. Sao cháy thảo quyết minh có tác dụng an thần rõ hơn; đồng thời hạ áp mạnh hơn dạng sống (trên chuột thí nghiệm).

Bán hạ khi chế gừng giảm tính chất kích thích cô họng. Tác dụng chống ho trừ đờm tốt hơn (trên chuột thí nghiệm).

-  Cả 3 dạng chế của hoa hòe: Vì sao, sao vàng, sao cháy đều có tác dụng hạ áp. Song dạng sao cháy tác dụng tốt hơn.

Thực nghiệm giãn mạch tai thỏ thấy rằng dạng sóng và sao vàng giống nhau, dạng sao cháy tốt hơn. Hoa hoè sao vàng, sao cháy đều có tác dụng rút ngắn thời gian đông máu ở đuôi chuột.

- Đối với vị thuốc nga truật, dạng chế phẩm hạ áp tốt hơn dạng sống. Dạng chế giấm cũng giãn mạch tai thỏ tốt hơn dạng sống. Các dạng chế nga truật đều có ảnh hưởng tới các yếu tố làm tan sợi huyết đến quá trình tiêu fibrin và rút ngắn thời gian tiêu sợi fibrin tốt hơn dạng sống.

Chế biến giảm độc tính của vị thuốc.

Có thể quan sát ở các dạng chế biến của mã tiền rang cát, rán dầu vừng, dầu lạc. Dạng rang cát, thành phẩm có tính không ổn định về hàm lượng alcaloid.

Ở mã tiền sống, hàm lượng alcaloid toàn phần 1,43%; mã tiền rán dầu vừng 0,55%, rán dầu lạc 1,28%. Song song với sự thay đổi hàm lượng alcaloid toàn phần; hàm lượng strychnin, alcaloid chính của mã tiền cũng giảm đi.

Ở mã tiền sống hàm lượng strychnin 0,38%, dạng rán dầu vừng 0,25, dạng rán dầu lạc 0,3%.

Đối với phụ tử, việc chế biến cũng làm giảm hàm lượng alcaloid toàn phần của nó. Với phụ tử sống hàm lượng aconitin 0,195%; phụ tử đồ hàm lượng aconitin 0,058%; hắc phụ 0,058%; nấu dưới điều kiện có áp suất hàm lượng đó là 0,067%. Như vậy có thể thấy rằng sau khi chế biến các hàm lượng alcaloid ở mã tiền và phụ tử đều giảm đi. Các alcaloid chính của chúng strychnin trong mã tiền, aconitin trong phụ tử đều giảm thấp. Chính vì lẽ đó, sau khi chế biến, người ta đã dùng chúng làm thuốc để uống được vì độc tính đã giảm; còn nếu không chế thì chỉ được phép dùng ngoài dưới dạng cồn xoa bóp chữa đau nhức xương cốt hoặc cơ nhục.

Chế biến làm thay đổi về mặt hóa học.

Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ sau chế biến, các thành phần hóa học trong vị thuốc đều có sự biến đối lớn. Đa phần có sự biến đổi về hàm lượng. Ví dụ các dược liệu chứa tinh dầu, sau khi chế biến, hàm lượng tinh dầu giảm đi rõ rệt, trắc bách diệp, ngải diệp, hương phụ nếu sao cháy, hàm lượng tinh dầu giảm 80%, sao xém cạnh giảm 40%.

Với phụ tử, qua chế biến, có sự biến đổi về mặt hóa học của alcaloid chính aconitin.

Như vậy sau một chuỗi biến đổi về mặt hóa học; dưới tác dụng của nhiệt độ, thành phần hóa học chính của phụ tử (aconitin) đã bị thay đổi từ aconitin một chất rất độc (5mg aconitin có thể gây chết người) đã chuyển thành benzoyl aconin ở nhiệt độ 100oC và nếu dùng áp suất ở nhiệt độ 160oC - 170°C, ta sẽ có sản phẩm cuối cùng là aconin. Aconin chỉ độc bằng 1/50 - 1/2000 aconitin. Mặt khác aconin tăng huyết áp. Chính vì vậy ta có thể dùng phụ tử chế (hắc phụ, bạch phụ) để làm thuốc uống trong; dùng tốt cho các trường hợp dương hư, thoát dương (trạng thái suy tim, huyết áp tụt...)

Nguồn: Phương pháp chế biến thuốc cổ truyền

Tags: chế biến thuốc, thuốc cổ truyền,

Bạn cần tư vấn






Bài liên quan