Chẩn đoán và phát hiện một số chất độc trong cây độc

584 28/08/2019
Skhoe24h.com - Chất độc trong cây độc cần phải được phát hiện trước khi sử dụng. Sau đây là một số phương pháp hoá học đơn giản dùng để phát hiện một số chất độc chính trong cây....

Chẩn đoán chất độc trong cây độc

Phương pháp xác định alcaloid

Alcaloid được chiết xuất từ mẫu cây theo cách đơn giản sau đây: Cho nguyên liệu nghiền nhỏ vào hình ngấm kiệt rồi chiết bằng dung dịch acid mạnh đã pha loãng trong nước hoặc trong cồn, Các alcaloid trong nguyên liệu sẽ chuyển sang dạng muối, tan trong hai dung môi trên. Bốc hơi dung môi dưới áp lực giảm và nhiệt độ càng thấp càng tốt. Cặn thu được cho tác dụng với một kiềm (như NaOH, NH4OH, vôi...). Hoà tan alcaloid base được giải phóng bằng một dung môi hữu cơ thích hợp như cloroform, ete, benzen,... Alcaloid trong dịch thu được đã khá tinh khiết, Bốc hơi dung môi, cặn thu được là các alcaloid cần chiết.

Để xác định nhanh sự có mặt của alcaloid trong cây, có thể tiến hành đơn giản như sau: lấy 1 - 2 gam nguyên liệu, giã nát, ngâm vào 5ml dung dịch acid acetic 1%. Đun sôi, lọc qua giấy lọc. Dịch lọc đem thử với một số thuốc thử sau:

Bouchadar (5 phần iod, 10 phần KI, 100 phần nước). Các alcaloid cho tủa nâu.

Vanse-Mayer (1 phần HgCl2, 4 phần KI, 95 phần nước): Các alcaloid cho tủa trắng hay vàng nhạt.

Dragendorff (Kali iodo bismut): Các alcaloid cho tủa vàng da cam đến đỏ.

Một số thuốc thử với alcaloid cho màu đặc biệt:

Với acid nitric đặc: brucin - đỏ; conchichin - tím.

Thuốc thử sulphonitric: conexin - vàng.

Thuốc thử sulphomolypdic: morphin - tím, v.v....

Đơn giản hơn nữa, có thể phát hiện sự có mặt của alcaloid trong cây bằng giấy thử đặc biệt, tẩm sẵn thuốc thử Dragendorff: Giỏ một giọt dịch cây tươi lên giấy thử (hay đơn giản hơn, đặt một mẩu lá hay mẩu thân tươi lên giấy thử, dùng kìm ép cho dịch cây chảy ra, thấm vào giấy). Nếu có alcaloid, trên giấy thử sẽ xuất hiện một vòng màu da cam. Alcaloid trong mẫu thử càng nhiều thì độ lớn, độ đậm của vết màu da cam càng rõ.

Phương pháp xác định glycosid

Các glycosid dễ bị phá huỷ bởi các men đi kèm, có sẵn trong cây. Cho nên, bao giờ cũng phải diệt men trong mẫu vật trước khi làm các phản ứng phát hiện glycosid. Người ta thường diệt men ở nhiệt độ 70 - 80°c trong thời gian rất ngắn bằng cách đun cách thuỷ hay sấy nóng.

Glycosid từ cây được chiết như sau: Mẫu cây tán nhỏ, diệt men, rồi chiết bằng nước nóng hay cồn sôi. Lọc lấy dịch chiết (nếu dùng cồn chiết thì cất thu hồi cồn), loại bỏ các tạp chất (clorophin, tanin, chất béo,...) bằng cách quấy dịch chiết với than hoạt tính, dung dịch chì acetat, hoặc kẽm oxyd,... Lọc lấy chất lỏng, bốc hơi dịch lọc để thu được glycosid ở dạng bột.

Các glycosid có cấu tạo hoá học rất khác nhau nên chưa có thuốc thử chung cho tất cả mà chỉ có những phản ứng cho từng nhóm cấu tạo riêng. Sau đây là một số phương pháp để phát hiện những nhóm glycosid chính:

Xác định nhóm glycosid sinh acid cyanhydric (có trong củ sắn, măng, hạnh nhân, một số loài đậu độc, một số nấm độc).

Lấy 1-2 gam nguyên liệu, cho vào dung dịch acid acetic loãng, đun nóng, lọc. Thêm vào dịch lọc vài giọt dung dịch NaOH và vài tinh thể FeSO4. Đun sôi, để nguội. Dung dịch chuyển sang màu lam chứng tỏ nguyên liệu có glycosid sinh acid cyanhydric.

Xác định nhóm glycosid độc đối với tim (có trong các cây trúc đào, sừng trâu, dương địa hoàng,...).

Ngâm mẫu vật tán nhỏ trong cồn loãng, Đun cách thuỷ khoảng 30 phút. Lọc lấy dịch chiết. Cho vào ống nghiệm 5ml dịch chiết, thêm vào đó 10-15 giọt dung dịch chì acetat bão hoà, sẽ xuất hiện kết tủa (nếu chưa kết tủa thì tiếp tục cho thêm dung dịch chì acetat, lác đều, cho đến khi xuất hiện tủa).

Thêm 10-20 giọt dung dịch Na2SO4 bão hoà để loại chì acetat thừa. Lọc loại tủa. Dịch lọc cho vào 2 ống nghiệm, thử hai phản ứng sau:

Ống nghiệm 1: Thêm 3 - 5 giọt thuốc thử gồm 9 phần dung dịch trinitrophenol trong nước và 1 phần dung dịch NaOH 10%. Lắc đểu 5-10 phút hay đun cách thuỷ ở nhiệt độ 50°c. Glycosid tim cho màu đỏ da cam.

Ống nghiệm 2: Thêm 3 - 5 giọt thuốc thử gồm 1ml dung dịch acid 3-5 dinitrobenzoic trong cồn, thêm 3ml dung dịch NaOH 4% và 7ml nước. Glycosid tim cho màu đỏ.

• Xác định saponin: Dựa vào đặc tính tạo bọt và làm tan máu của saponin, có thể xác định sự có mặt của saponin bằng các phản ứng sau:

Phản ứng tạo bọt: Lấy vài gam mẫu vật tán nhỏ cho vào Ống nghiệm chứa vài mililit nước, lắc mạnh trong 2-3 phút, Để yên, nếu có saponin thì trong ống nghiệm sẽ có cột bọt tương đối bền, Hàm lượng và chất lượng saponin có trong mẫu vật được đánh giá bằng độ cao và thời gian tồn tại của cột bọt tạo ra. Lượng saponin có trong mẫu vật thường được đánh giá bán định lượng theo các mức sau:

Nếu cột bọt bền được: 

15 phút :+

30 phút : + +

60 phút : + + +

Phản ứng tan máu: Vì các albumin cũng có tính chất tạo bọt nên cần phải làm thêm phản ứng tan máu để phân biệt saponin với các albumin có lẫn trong mẫu thử: Lấy 1 - 2 gam mẫu tán nhỏ, lắc với nước, lọc lấy dịch lọc, trộn dịch lọc với hỗn dịch hồng cầu trong nước muối đẳng trương, lắc đều, để một lúc, nếu thấy tan hồng cầu, tức là có hiện tượng tan máu, chứng tỏ có mặt saponin.

Phương pháp phát hiện tinh dầu

Tinh dầu thường có mùi thơm đặc biệt nên có thể sơ bộ phát hiện bằng cách vò cây hoặc lá và ngửi. Để xác định một cách chính xác, phải cất lấy tinh dầu. Phương pháp cất đơn giản được tiến hành như sau: Cho mẫu vật đã xay nhỏ vào một hình cầu, thêm nước, lắp ống sinh hàn, cất, hứng lấy tinh dầu vào một bình hứng. Trong bình hứng, phần lớn tinh dầu nhẹ hơn nước nổi lên trên. Chỉ một số ít loại tinh dầu nặng hơn nước sẽ lắng xuống dưới. Gạn lấy tinh dầu và làm các phản ứng xác định tiếp theo.

Phương pháp phát hiện trên súc vật

Ngoài một số phương pháp xác định các chất độc chính như đã nêu trên, trong cây độc còn có nhiều chất độc khác như các protein độc, sắc tố độc, các acid hữu cơ độc. v.v... Muốn xác định chính xác độc tính của cây, cần phải thử nghiệm thêm một số phản ứng trên súc vật. Sau đây là một vài phương pháp thử đơn giản.

Thử nghiệm trên cá: Lấy nước sắc mẫu vật (nồng độ 20 - 50 phần trăm), để nuôi cá nhỏ, theo dõi tình trạng sức khoẻ của cá trong thời gian 24 - 72 giờ. Nếu cá chết hoặc hoạt động yếu đi, chứng tỏ mẫu vật có chất độc. Ngược lại, cá vẫn mạnh khoẻ bình thường, chứng tỏ trong mẫu vật không có chất độc.

Thử nghiệm trên chuột nhắt, thỏ hoặc chó: Các thử nghiệm này dựa trên nguyên tắc: đưa mẫu vật nghi ngờ vào các súc vật nói trên theo đường tiêu hoá rồi theo dõi tình trạng sức khỏe của chúng, đồng thời theo dõi chức năng các hệ hô hấp, tuần hoàn, thần kinh v.v... của chúng, so sánh với lô súc vật đối chứng để đảm bảo tính khách quan và chính xác của thử nghiệm.

Nguồn: Cây độc Việt Nam

Tags: cây dộc, chất dộc,

Bạn cần tư vấn






Bài liên quan