
Tên khác: Cây đậu thự.
Tên khoa học: Pachyrhizus erosus (L.) Urb. Họ Đậu (Fabaceae)
Mô tả: Cây thảo, thân leo. Rễ củ nạc, to, hình con quay. Lá kép mọc so le, có ba lá chét mỏng. Lá chét dài 4-8cm, rộng 4-12cm. Hoa màu tím nhạt, tụ họp thành chùm dài ở nách lá. Quả loại đậu, dài 12cm, rộng khoảng 12mm, mặt ngoài hơi có lông, chứa 7-9 hạt to nhẵn, màu nâu đỏ.
Nơi mọc: Cây được trồng khắp nơi ở nước ta để lấy củ ăn (ăn sống hoặc nấu chín).
Lá và hạt đều độc. Hạt có chứa 0,56-1phần trăm rotenon, pachyrizon, rachyrizin và một số chất khác độc đối với người, với cá, và sâu bọ.
Lá có retonoid pachyrhizin và các steroid tự do, độc đối với động vật nhai lại nhưng không độc đối với ngựa.
Nôn mửa, ỉa chảy, hạ đưòng huyết, loạn nhịp tim, co giật, mê man. Cuối cùng bị chết do suy hô hấp cấp.
Theo phương pháp giải độc cấp tính chung (xem phần Đại cương).
Chú thích
Một số nơi dùng hạt củ đậu giã nhỏ để làm thuốc trừ sâu, trừ rệp cây bông, thuốc lá (1kg hạt củ đậu giã nhỏ hoà vào 200 lít nước, thêm ít xà phòng rồi phun), trộn với dầu để bôi chữa ghẻ và một số bệnh ngoài da. Phải thận trọng vì hạt có chất độc.