
Tên gọi “Rheumatoid arthntis” là do một tiến sĩ y khoa người Anh, tên là Alfred Baring Garrod đặt ra. Ông chọn chữ "Rheumatoid" để diễn tả loại đau khớp này do triệu chứng của bệnh, nhất là ở giai đoạn đầu có sốt kèm.
Đau khớp Rheumatoid thường là viêm sưng các khớp trên cơ thể, đặc biệt là ở vùng hoạt dịch bao phủ các khớp. Cùng với sự giãn nở màng hoạt dịch là thể tích các chất nhờn của khớp tăng lên.
Trong bệnh này, các khớp rối loạn trở nên sưng phồng do màng hoạt dịch sưng viêm: Các mô trong màng hoạt dịch phân chia ra và viêm sưng tại các khớp lan ra các phần khác của cơ thể. Kết quả là khớp trở nên sưng phồng và cứng. Dòng máu làm cho các khớp nóng lên. Các dưỡng tố thoát ra từ các mô chảy vào trong các khớp gây đau đớn. Triệu chứng thường là đau đớn khi cử động hay đau đột xuất. Nếu tiến trình này tiếp diễn, sụn và xương bị ăn mòn làm méo mó các khớp và cuối cùng là hoá cứng toàn bộ.
Mắt cá và cổ tay là nơi thường bị đau khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis), Khi đó thì đầu gối và kế đến là xương mu bàn chân cũng bị ảnh hưởng và có thể dẫn tới các khớp khác cũng bị đau.
Bệnh đau khớp dạng thấp không chỉ gây đau tại chỗ bị viêm sưng mà toàn bộ cơ thể cũng bị ảnh hưởng, kèm theo đó là các triệu chứng sốt nhẹ, mệt mỏi và ngủ mất ngon, sụt cân. Vài trường hợp còn gây ra bệnh thiếu máu, nhất là trong những ca nghiêm trọng. Phổi có thể cũng bị ảnh hưởng dẫn tới viêm màng phổi, màng lồng ngực. Tụy tạng nở to do sự sản xuất bất ổn của bạch cầu. Bệnh tim đập nhanh cũng có thể xuất hiện. Người bệnh luôn cảm thấy lạnh, ẩm ướt, có cảm giác như kim đâm bàn tay và bàn chân, thường vã mồ hôi, nổi cục dưới da. Trường hợp này được gọi là bệnh khớp bướu, các bướu này có kích thước nhỏ như hạt đậu hay mọc ở vùng cùi trỏ.
Bệnh để lâu nặng sẽ trở thành mãn tính. Tuy nhiên có hai trường hợp cần được xem xét. Có người chỉ bị cơn bệnh ngắn và rồi bệnh rút lui không bao giờ trở lại. Đó gọi là bệnh đơn chu kỳ (Monocyclic). Loại thứ hai cơn đau trở lại sau một thời gian bình thường, được gọi là bệnh đa chu kỳ (Polycyclic).
Số người mắc bệnh đau khớp dạng thấp đa chu kỳ có tới 75% là nữ giới, nhiều nhất là ở độ tuổi từ 36 đến 45 tuổi.
Có nhiều cách để chẩn đoán bệnh đau khớp dạng thấp. Thường trên 80% ca là dựa vào xét nghiệm nhân tố Latex dương tính, thử nghiệm lắng cặn để tìm tỷ lệ các thành phần nặng của máu, tỷ lệ càng cao chứng tỏ bệnh càng nghiêm trọng. Cuối cùng, X quang sẽ cho biết các phần tổn hại của xương và sụn.
Cách chữa trị thông thường cho các bệnh đau khớp dạng thấp là sử dụng thuốc aspirin kết hợp với một vài dược phẩm khác. Aspirin được coi là thành phần đặc trị chính do có tác dụng giảm đau và chống viêm sưng.
Người thầy thuốc có thể chọn dược phẩm cơ bản cho các bệnh nghiêm trọng và xem xét các phản ứng thuốc của bệnh nhân. Khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân phải được giám sát cẩn thận và tăng liều lượng, kéo dài thời gian điều trị tình trạng bệnh .
Thêm vào đó, vật lý trị liệu là cần thiết để giúp cho các khớp hoạt động. Các loại trị liệu khác như chườm túi nóng, túi lạnh, túi ấm và điện nhiệt cũng được sử dụng.
Đặt thời khoá biểu cho việc tập luyện dành cho các bệnh nhân còn có thể hoạt động được ở các khớp bị thương tổn cũng giúp ích rất nhiều.
Nghỉ ngơi cũng quan trọng bởi các bài tập luyện bình thường bị hạn chế do bị đau đớn. Sự đau đớn liên miên hàng ngày làm mệt mỏi và nản lòng cần phải được dưỡng sức đặc biệt.
Bệnh đau khớp dạng ban đỏ (Lupus) là bệnh gây ra nhiều triệu chứng. Danh từ đầy đủ để gọi tên bệnh là Systemic lupus erythematosus và một lối viết tắt khác là “lupus” hoặc là “sle”. Hệ thống miễn dịch tự động dùng để bảo vệ cơ thể này lại đi tàn phá các mô. Nguyên do gây ra bệnh còn chưa được biết.
Triệu chứng của bệnh ban đỏ ảnh hưởng đến phần lớn cơ thể thường thấy sự phát ban hình cánh bướm ở sống mũi và gò má, hiện tượng Raynaud (đổi màu sắc ở bàn tay), bị tróc những mảng lớn ở da đầu. Các lớp da của bệnh nhân bị phản ứng khi tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng, miệng bệnh nhân có thể bị lở loét. Loại viêm màng phổi (Pleuritis) có thể gây nguy hại cho màng phổi, loại Percarditis làm viêm ở vùng tim và viêm sưng phúc mạc vùng bụng.
Phân nửa số bệnh nhân ban đỏ (lupus) còn bị viêm thận, hồng cầu giảm dẫn đến bệnh thiếu máu, bạch cầu cũng giảm thiểu.
Thêm vào các triệu chứng là khớp bị viêm, nhất là ở vùng hoạt động. Giống như viêm khớp dạng thấp dù triệu chứng có khác nhau tuỳ theo tình trạng, các khớp thường không sưng ở bệnh viêm khớp ban đỏ và không nghiêm trọng như viêm dạng thấp, khi cử động thì ít đau đớn hơn... Viêm khớp ban đỏ tác hại vào các khớp cũng giống như viêm khớp dạng thấp, cổ tay và mắt cá, đặc biệt là ở ngón tay giữa và đầu gối phần dưới cơ thể là thường bị tấn công nhiều nhất. Cột xương sống thường không bị ảnh hưởng.
Đến 90% trường hợp viêm khớp ban đỏ xuất hiện ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai, đặc biệt trong thời kỳ thai đầu của thai phụ. Sau khi sinh nở, triệu chứng có thể trở nên xấu hơn.
Thử nghiệm chẩn trị gồm thử độ máu giảm, phân tích nước tiểu, chiếu X quang, xem điện tâm đồ hoặc thanh tâm đồ. Các thử nghiệm trên được bổ sung thêm phương pháp thử nghiệm vật lý cơ bản.
Thuốc viên để trị bệnh viêm khớp ban đỏ tuỳ thuộc vào tình trạng nghiêm trọng của bệnh. Chất cortisone và ngăn miễn nhiễm được dùng trong ca nghiêm trọng. Các chất thường là chất chống viêm sưng như aspirin và hydroxychloroquine.
Bệnh này ăn mòn dần và làm suy sụp chất sụn ở các khớp, sau một thời kỳ chất sụn trở nên lõm và mòn hỏng, và hai đầu xương có thể cọ vào nhau, các xương phát triển dầy lên và làm các khớp dính vào nhau.
Các loại viêm khớp được phân biệt nhiều loại do nhiều yếu tố khác nhau. Ở bệnh hư khớp này không hề có một viêm sưng nào, hoặc có rất ít. Nó diễn tiến chậm chạp và âm thầm thay vì các chu kỳ có cường độ mạnh hơn của các loại viêm khớp khác. Và thường không kèm theo triệu chứng gì. Trong quá khứ bệnh này thường đi kèm với quá trình tuổi tác. Một phần lý do của lý thuyết trên là bệnh ngày càng tăng lên khi tuổi càng cao. Ở độ tuổi 40, 90% mọi người đều bị thoái hoá ở khắp các khớp chịu lực và ở tuổi 60 không có ai ngoại lệ. Dù có sự thay đổi này, nhiều người cũng không có triệu chứng rõ ràng lắm để ghi nhận là có bệnh chính thức.
Mục tiêu tấn công hàng đầu của bệnh hư khớp dường như là ở các khớp chịu lực. Hông, gối, chân, cột sống. Gai xương có thể xuất hiện ở cổ hoặc phần cuối đốt sống. Các đốt cột sống hẹp lại và các đĩa đệm cột sống bị xẹp lại? Đối với các phần trên cơ thể phần cuối các ngón tay thường có ảnh hưởng. Gai xương lan ra ờ đầu các ngón tay, như là bị bướu cứng, có thể có cả gai xương ở các khớp thứ nhì của ngón tay bướu, Kết quả là các ngón tay cong queo, đầy gai xương và cứng.
Chẩn trị bệnh thường bằng X quang cho thấy khoảng giữa các khớp ở khớp hẹp lại và cuối cùng dính vào nhau. Các ngón tay rất đau. Nói chung, các xét nghiệm về máu của bệnh nhân được ghi nhận là vẫn bình thường.
Chương trình tập luyện cho bệnh nhân là cốt làm tăng trưởng phạm vi hoạt động của khớp và làm cho dẻo khớp một liều vừa phải aspirin được kê đơn, và các loại thuốc viên chống viêm sưng được khuyên dùng. Để làm giảm đau, đắp nóng và lạnh lên chỗ khớp đau.
Loại viêm khớp Ankylosing spondylitis gọi tắt là AS được gọi khi mô viêm sưng toả rộng khắp đầu gân, dây chằng bám vào xương, gai xương mục giữa khớp và làm cho khớp dính lại. Quá trình này tiến dọc theo cột sống.
Trong bệnh viêm khớp đốt sống, đĩa đệm xẹp đĩa và các đốt sống dính lại. Trước tiên bệnh tấn công vào phần dưới của đốt sống và từ từ tiến lên phía trên. Không phải nó làm cho cột sống cứng và đứng thẳng mà xương sống ngày càng cong xuống, mắt chỉ nhìn xuống đất, ngực xẹp lại và không giữ được dáng đi bình thường do các đốt sống bên dưới dính lại. Tư thế này chúng ta thường thấy ờ người cao tuổi, chân bước lê và phải dùng gậy chống.
Bệnh viêm đốt sống tiến triển chậm và cường độ không mạnh. Lớp tuổi tiêu biểu bắt đầu từ 16 đến 35 tuổi và tiên triển dần dần trong thời gian dài cho đến khi bệnh được phát hiện ra.
Thường bệnh tấn công vào đàn ông. Triệu chứng thường là giảm cân và mệt nhọc.... Trường hợp nghiêm trọng là đôi mắt bị đau đỏ. Trong vài trường hợp vành động mạch chủ của tim bị tấn cồng.
Bệnh có nhân tố di truyền, gen JLA 26 được tìm thấy ở 80% ca bệnh, X quang được sử dụng để kiểm tra sự hợp nhất của các đốt sống.
Trị liệu thông thường cho bệnh AS là vật lý trị liệu và luyện tập cá nhân để giữ cho các khớp mềm dẻo. Aspirin không được dùng cho bệnh này.
Xuyên qua lịch sử, có rất nhiều nhân vật lừng danh đã chịu đau đớn về bệnh này. Trong số đó có Benjamin, Fran Klin, Michaelangelo, Leonardo de Vinci, Milton, Sir Isac Newton, Charles Darwin.... đã nhiễm phải một trong các loại viêm khớp gây đau đớn nhiều nhất. Tiến trình của bệnh thường đĩ theo một kiểu mẫu. Trước tiên axit uric tăng cao trong máu. Axit uric là một sản phẩm bình thường sinh ra từ sự biến dường của cơ thể, có giao động chút ít ở tuổi dậy thì, thời kỹ mãn kinh Ồ phái nữ thường lượng axìt tăng cao. Nếu tiếp tục một lượng thái quá trong máu, axit uric sẽ biến thành dạng tinh thể và đóng ở các khớp và mô. Các tinh thể này gồm có muối urate được gọi là Tophus, đóng trú trong các khớp và gây viêm sưng khớp kèm nóng đỏ. Không phải chỉ những các khớp bị nhiễm mà ở thân cũng vậy và tiến đều hình thành sỏi thận.
Thông thường cơn đau đớn đầu tiên khởi vào buổi tối và sẽ tấn công theo từ chu kỳ. Trước hết là tấn công với cường độ cao trong vài ngày và đến một thời kỳ hơn hai tuần lễ không thấy triệu chứng gì trước khi có một đợt tấn công kế tiếp. Thời gian có thể thay đổi từng cá nhân nhưng kiểu mẫu bệnh tổng quát là xen kẽ giữa hai chu kỳ đau và không đau liên tục. Sau đó nếu bệnh trở nên xấu đí, cơn đau sẽ liên tục không bao giờ ngừng.
Thống phong là một bệnh tương đối ít khắc nghiệt, 90% bệnh nhân thống phong có kinh nghiệm bị tấn công vào ngón chân cái nhiều lần trong thời gian họ bị bệnh này, loại đặc biệt này có tên là Podgra.
Thống phong thường xuất hiện ở ngón chân cái. Sưng viêm, nóng và đau đớn nhiều, chỗ khớp nổi đầy những gai nhọn tinh thể.
Ở các vùng thấp khác, như mu bàn chân, mắt cá, gót chân, đầu gối cũng có thể bị dính líu. Các phần phía trên cơ thể như cổ tay, ngón tay, cùi chỏ cũng vậy. Vài trường hợp có triệu chứng bong gân mắt cá, nứt ngón chân, đau nhói ở ngón chân cái.
Trong bảng tóm tắt thống kê các bạn có thể thấy hầu hết 80 đến 90% bệnh nhân loại này đều là đàn ông.
Để chẩn trị người ta thử nghiệm mẫu nưóc tiểu, độ cao của axit trong máu, hoặc mẫu nước nhờn ở khớp (xác định tinh thể).
Trị liệu thống phong bao gồm phương pháp kiêng ăn và dược phẩm. Do yếu tố ăn kiêng trong bệnh thống phong được nhận đính !à có liên quan. Một khẩu phần ăn nhiều thịt đặc biệt là nhiều purine đợc tin tưởng là sẽ gây ra bệnh thống phong, do biến dưỡng của cơ thể không thể phá vỡ nối sự quá tải này. Thêm vào đó nếu lại uống nhiều rượu thì khó lòng tránh khỏi bệnh này.
Trong sự liên quan giữa thức ăn và bệnh thống phong có một dữ kiện rất lý thú trong khoa học dịch tễ học ở thế kỷ 20 này. Đó là hiện tượng bệnh phong thấp giảm thiểu rõ rệt trong và sau thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Lý do là trong hai thời kỳ này thực phẩm hiếm hoi, nhất là loại thực phẩm giàu chất lượng. Bệnh thống phong cũng ít thấy ở những người thổ dân sống trong vùng của họ, dường như đòi sống nơi đó gần thiên nhiên hơn, lối sống và cách dùng thực phẩm truyền thống nên bệnh thống phong rất là hiếm thấy.
Dược phẩm trị liệu hàng đầu cho bệnh này là Colchicine phenybutasone, Idomethacin và một vài loại chống viêm sưng khác thường được dùng. Đôi khi người ta tiêm thẳng Corticosteroids vào khớp viêm. Thêm vào đó là các dược phẩm làm giảm axit uric dùng giữa hai thời kỳ bệnh tấn công.
Để tránh nhầm lẫn, nên biết có một dạng khác của viêm khớp, gọi là giả thống phong (pseudogout) cũng có thể có, dù nó tương tự như bệnh thống phong (gut), nhưng đặc biệt khác ở chỗ các tinh thể phát triển ở khớp, đó là những tinh thể pyro- phosphate, và gồm có nhiều calciunl. Các tinh thể này được tạo thành ồ các phần bên dưới cơ thể, và gây nhiều vấn để cho người cao tuổi. Tuổi là 70 là mức bình quân của lần bệnh đầu tiên. Đầu gối thường hay bị nhất, kế đó là cườm tay và mắt cá. Cơn bệnh không rõ rệt và kéo dài hơn là trong bệnh gut.