
Xoang là những hốc xương rỗng trên khối xương mặt. Có hai nhóm xoang. Nhóm xoang trước gồm xoang trán, xoang hàm, xoang sàng trước. Nhóm xoang sau gồm: xoang sàng sau, và xoang bướm.
Tất cả các xoang này đều có lỗ thông vào mũi. Bệnh nhân bị viêm các xoang sau có cảm giác nước mũi chảy xuống họng, nhức âm ỉ quanh hai hốc mắt, hoặc ở vùng chân mày phía gần mũi, đôi khi lan đến vùng đỉnh đầu hoặc sau gáy. Để chẩn đoán xác định viêm các xoang sau, bệnh nhân thường được chụp X-quang bằng tư thế Hirzt (tư thế cằm - đỉnh đầu).
Cần lưu ý rằng, không phải triệu chứng nhức đầu nào cũng do bị viêm xoang. Khi chụp X- quang ở tư thế Hirzt, bác sĩ thường đọc và ghi kết quả là mờ xoang sàng. Thật ra mờ xoang sàng có nhiều mức độ và không đồng nghĩa với viêm xoang. Do đó, bệnh nhân nên đến khám tại các cơ sở có chuyên khoa tai mũi họng để được bác sĩ chẩn đoán chính xác. Hiện tại, Trung tâm Tai mũi họng TP.HCM và một số bệnh viên khác có nội soi mũi xoang; tức là đưa ống soi quang học có độ phóng đại vào mũi để quang sát các cấu trúc của mũi, nhất là các lỗ thông xoang. Các hình ảnh này được camera truyền lên màn ảnh, giúp bác sĩ chẩn đoán chính xác bệnh nhân có thật sự bị viêm xoang hay không và có cách điều trị thích hợp.
Nếu bệnh nhân bị viêm các xoang sau thì các bước điều trị (từ thấp đến cao) sau đây sẽ được thực hiện:
- Điều trị nội khoa (kháng sinh, kháng Histamine, giảm viêm...).
- Làm thủ thuật Proertz (thường được gọi là một danh từ bình dân là "kê kê"). Bác sĩ sẽ dùng một dụng cụ đặt vào mũi và hút với một áp lực vừa phải để hút các chất dịch có trong xoang và đưa thuốc vào xoang.
- Nếu các phương pháp điều trị nên không khỏi thì phải phẫu thuật. Hiện nay phẫu thuật xoang sàng thường được thực hiện qua nội soi.
- Viêm xoang sàng thường gây các biến chứng như viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu (gây mờ mắt) và có thể lan đến các xoang khác.
- Viêm các xoang cạnh mũi
Các xoang mặt được thông với mũi qua lỗ thông xoang. Niêm mạc của xoang rất nhạy cảm với sự thay đổi của nhiệt độ, độ ẩm, áp lực không khí, áp lực O2 và CO2.
- Tắc lỗ thông xoang: Do viêm mũi hoặc lỗ thông nhỏ, chất dịch thoát ra không kịp làm cho lỗ thông phù và càng nhỏ thêm.
- Hệ thống lông chuyển ở mũi kém hoạt động.
- Tuyến nhầy của niêm mạc xoang quá hoạt động.
- Viêm mũi dị ứng, viêm mũi sau nhiễm virus (cúm, sởi...) và bị bội nhiễm, viêm mũi mạn tính gây polyp (thịt dư) mũi, dùng aspirin trong trường hợp không dung nạp được thuốc và làm nặng thêm polyp mũi xoang có sẵn.
- Nhiễm trùng từ mũi hoặc từ răng số 5, 6, 7 hàm trên.
- Sau chấn thương có tổn thương niêm mạc xoang.
- Một số nguyên nhân toàn thân: suy giảm miễn dịch, suy yếu niêm mạc đường hô hấp, rối loạn hệ thần kinh thực vật...
Nhóm xoang trước thường cho triệu chứng ở mũi, nhóm xoang sau thường cho triệu chứng phía họng.
- Chảy nước mũi trong, dịch nhầy hoặc mủ. Nếu chảy mũi mủ; người bệnh ngửi thấy mùi hôi trong mũi; còn chảy mủ vì viêm xoang hàm do răng, người bệnh ngửi thấy mùi thối trong mũi.
- Nghẹt mũi, có thể tạm thời gây mất khứu giác.
- Có thể đau nhức quanh ổ mặt, nặng mặt, đau nhức một số vùng trên mặt: đau vùng má khi viêm xoang hàm, đau vùng góc trong trên mắt khi viêm xoang sàng, đau vùng đầu trong lông mày khi viêm xoang trán.