
Nước mát 25-30oC, trung bình 33-34°C, ấm 35-36°C, nóng 37-40oC, rất nóng >40oC. chủ yếu do tác dụng nhiệt của nước có thể thời gian 15-30 phút hoặc 1-2 giờ tùy mục đích và khả năng chịu đựng.
Tắm ngâm cục bộ: Chủ yếu tăng tuần hoàn cục bộ, thường ngâm tay, chân, xương chậu - mông (ngồi trong chậu nước), thường thời gian ngâm 15-20 phút.
Tắm ngâm toàn thân: Bề mặt da chịu tác động trong thời gian lâu, tác dụng cơ học của nước lên cơ thể nhiều hơn, nên có ảnh hưởng mạnh đến toàn thân (tim mạch, tuần hoàn, chuyển hóa, thân nhiệt, thần kinh).
Nhiệt độ nước trung hòa và ấm: Mỗi lần 15-30 phút, sau khi ngâm lau khô người và nằm nghỉ 15-20 phút.
+ Tác dụng chính: Giảm đau khớp, giảm hưng phấn, giảm co thắt cơ, an thần, tăng bài tiết của da, tăng hoạt động thận.
Nhiệt độ mát hoặc lạnh: Mỗi lần 3-5 phút, chỉ áp dụng ở người tương đối khỏe không bị bệnh tim mạch.
+ Tác dụng chính: Tăng chuyển hóa, tăng kích thích.
Nhiệt độ nóng 40-42°C: Gây kích thích hệ thần kinh và tim mạch, đỏ da, tăng chuyển hóa, ra mồ hôi. Thường chỉ ngâm 5-10 phút, kéo dài gây ảnh hưởng tim mạch và giảm trương lực thần kinh.
Chỉ định: Giảm béo, kích thích chuyển hóa.
Sử dụng hóa chất có thể hòa tan trong nước, thường dùng nước ấm.
Muối ăn: 10-40 g/lít, tùy độ mặn có tác dụng như nước biển.
Các tinh dầu (thông, bạc hà, sả...) đủ gây mùi thơm. Dầu bốc hơi kích thích hô hấp, da và thần kinh, làm tăng cường chuyển hóa, chống mệt mỏi, chữa suy nhược cơ thể và ổn định thần kinh.
Radon phóng xạ: 40-200 microcurie 100-500 đ/v Ma xe (nguồn nước tự nhiên) vào cơ thể kèm theo bức xạ ảnh hưởng chuyển hóa tế bào, phân tử, làm tăng quá trình chuyển hóa oxy. Có tác dụng chống viêm khớp, đau và viêm thần kinh mạn, viêm đau thần kinh, xơ vữa động mạch, thiểu năng tuần hoàn.
Chú ý: Khi tắm ngâm toàn thân có thể gây nên các phản ứng tiêu cực như mệt mỏi, căng thẳng, mất ngủ, choáng váng...
phải chú ý theo dõi để điều chỉnh nhiệt độ, lượng chất cho thêm và thời gian vì từng người thích ứng khác nhau. Sau mỗi lần tắm ngâm toàn thân cần thiết phải lau khô và nằm nghỉ 10-20 phút.
Vòi tia vừa có tác dụng của nước, vừa có tác dụng cơ học. Thường dùng nước lạnh, ấm nóng với áp lực 2-3 atmosphere (atm), ngoài tác dụng của nhiệt độ, tác dụng cơ học của tia nước như một dạng xoa bóp đặc biệt, có thể gây kích thích hoặc an thần. Hiện nay có rất nhiều loại douche, sau đây là một số kỹ thuật thông dụng:
Tắm vòi tia với tia nước lớn 5-10mm áp suất 2-4atm, nóng và lạnh:
- Douche Charcot: Nước ấm bắn vào người ở cách xa 3m, tạo nên các vùng chịu áp lực như xoa day lên cơ thể.
- Douche Shotlander: Dùng 2 tia nước ấm (36°C) và lạnh (20°C) thay nhau 5-10 giây bắn vào người ở cách xa 3m, vừa có tác dụng xoa day, vừa rèn luyện khả năng thích nghi (nóng - lạnh), tăng cường sức khỏe.
Tắm vòi với tia nước lớn thường có tác dụng tăng tuần hoàn, giảm mệt mỏi, kích thích và dinh dưỡng cơ, phục hồi teo cơ, rèn luyện khả năng thích nghi, cần chú ý không bắn tia nước vào vùng ngực, bụng, mặt và hạ bộ. Mỗi lần điều trị 5-10 phút.
Khi sử dụng loại tắm vòi tia này tiêu thụ nước lớn, cần chú ý nguồn cung cấp và thoát nước tốt.
Xoa bóp bằng tia nước trong bồn tắm (Under Water Massage - UWM): Bồn tắm được thiết kế đặc biệt, làm nóng nước, có hệ thống bơm hút nước từ bồn ra rồi tăng áp lực thành các tia nước nhỏ (60-90 tia) bắn vào từng vùng cơ thể từ thành bồn, hoặc tạo ra tia nước lớn 5 - 10mm, sử dụng như vòi tia lớn. Ngày nay, đã có những bồn tắm UWM đa chức năng rất hiện đại, kết hợp tắm ngâm và điện phân.
Tùy cách sử dụng mà có thể gây kích thích hoặc an thần, phục hồi sức khỏe, chống mệt mỏi.
Trong nước, người có khó khăn về vận động tập luyện sẽ dễ dàng hơn nhờ lực đẩy của nước làm giảm trọng lượng cơ thể lúc vận động; nhiệt độ ấm, giúp tăng tuần hoàn, mềm dãn cơ và tổ chức xơ; đặc biệt trong tăng trương lực, liệt cứng, hạn chế vận động sau chân thương, phòng loét do nằm. Có thể thiết kế dạng bể bơi nhỏ với mức nước hợp lý tùy trẻ con hay người lớn.
Ngày nay, ở các nước y tế phát triển đã có hệ thống thủy trị liệu hoàn chỉnh bao gồm bể tập luyện trong nước, bệ tập đi và các loại bồn tắm vòi tia đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị - phục hồi.