(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Cam toại là phần rễ của cây cam toại, loài thực vật thân cỏ sống lâu năm thuộc họ đại kích, vỏ ngoài có màu đỏ, phần cùi màu trắng. Người ta thường đào lấy rễ vào mùa xuân trước khi nở hoa hoặc vào mùa thu sau khi mầm lụi. Tùy vào phương pháp bào chế mà phân thành 2 loại là cam toại tươi và cam toại chế.
Cam toại vị đắng, tính hàn. Chủ trị các khối u tích tụ trong bụng, bụng sưng to, bệnh sa, mặt mắt phù thũng, ăn không tiêu, có thể tiêu trừ các chứng kết khối rắn tích tụ, thông lợi thủy đạo, cốc đạo.
Người đời nay thường cho răng, cam toại có độc, quy về phế, tỳ và thận kinh. Cam toại vị đắng nên có thể giáng tiết, tính hàn có thể thắng nhiệt, đi thẳng đến nơi thủy khí kết tụ, là vị thuốc tốt dùng để lợi thủy. Triệu chứng ứ nước trong ngực, dùng loại thuốc này để tiêu trừ. Bài thuốc “Đại hãm hung thang” của Trương Trọng Cảnh đã dùng vị thuốc này. Cam toại thượng hành có thể tiêu trừ chứng mặt mũi phù thũng, giải thủy khí kết tụ trong dạ dày và bụng, trị chứng tích nước và các chứng do tích nước gây nên như: Lạnh vùng thắt lưng tức ngực, hen suyễn. Cam toại hạ hành có thể đi vào tỳ và thận kinh. Lý Thời Trân cho rằng: Thận chủ về thủy, ngưng trệ tất là đàm ẩm, tràn thì phù thũng. Cam toại có thể tiết thấp khí ở thận kinh, do đó về cơ bản có thể điều trị đờm từ gốc. Cam toại còn có thể thông lợi đại tiểu tiện. Nhưng người xưa lại cho rằng vị thuốc này có độc nên không thể khinh suất khi sử dụng, cũng không thể dùng quá liều lượng.
Y học hiện đại đã nghiên cứu và cho rằng, trong cam toại chứa thành phần tecpen, có tác dụng thông đại tiểu tiện, còn có thể kích thích mạnh niêm mạc ruột, gây nên chứng tiêu chảy nghiêm trọng. Vì độc tính của nó rất mạnh nên có thể gây ra những tác dụng phụ như đau bụng, khó thở, cho nên liều lượng chỉ định dùng không được vượt quá 1,5 - 3g. Đồng thời những người mắc các bệnh như suy hô hấp, tổn thương âm, tỳ vị suy nhược và phụ nữ mang thai không được dùng, cũng không được dùng chung với cam thảo.
Điều trị các chứng do nước bị tích tụ gây nên như: Lạnh vùng thắt lưng, tức ngực, hen suyễn.
Chủ trị các khối u tích tụ trong bụng, bụng sưng to, bệnh sa, mắt sưng đau, thức ăn không tiêu, tiêu trừ các chứng kết khối rắn tích tụ, thông lợi thủy đạo, cốc đạo.
Thông lợi đại tiểu tiện.
Trị phù thũng, đầy bụng
Cam toại (sao qua) 6,6g, hắc khiên ngưu 46g. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, nấu với nước, dùng tùy lúc.
Trị đau nhức, phù thũng toàn thân
Lấy cam toại 7,8g, còn tươi ghiền nhỏ, nhét vào trong quả cật lợn, buộc chặt lại, hầm chín rồi ăn. Mỗi ngày ăn 1 - 5 lần.
Trị phù thũng, hen suyễn
Cam toại, đại kích, mỗi loại 31g. Các vị thuốc trên dùng lửa nhỏ nướng qua, sau đó nghiền mịn, mỗi lần dùng 0,6 - 0,9g, thêm 120ml nước, đun sôi, dùng khi còn ấm.
Trị chân sưng đau
Cam thảo 15,6g, mộc miết tử 4 hạt. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, mỗi lần dùng 12g, cho vào trong cật lợn, buộc chặt rồi ninh chín, khi bụng đói dùng nước cơm uống.
Trị bệnh sa
Cam toại, hồi hương. Các vị thuốc trên nghiên nhỏ, mỗi lần uống 6g với rượu.
Trị bệnh tiêu khát
Cam toại (sao qua) 15,6g, hoàng liên 31g. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, thêm mật ong nặn thành viên bằng hạt đậu. Mỗi lần uống 2 viên với nước bạc hà để uống, cấm kỵ dùng với cam thảo.
Trị động kinh do trúng phong tà
Lấy cam toại 6g, nghiền nhỏ, nhét vào trong tim lợn, buộc chặt, rồi hầm chín. Lấy thuốc ra, cho thêm bột đan sa 3g, chia thành 4 phần, mỗi lần dùng 1 phần, còn quả tim lợn đem nấu canh dùng. Đối với chứng đại tiện khó rất có công hiệu, nếu chưa thấy đỡ tiếp tục dùng vài lần.
Trị chứng thở gấp, phong nhiệt và tâm thần bất an ở trẻ nhỏ
Cam toại 4,5g, đan sa 7,8g, một chút bột. Các vị thuốc trên nghiền thành bột, trước khi dùng lấy một chút nước tương, nhỏ thêm vài giọt dầu, sau đó cho 0,6 - 0,9g thuốc trộn vào, đợi thuốc lắng xuống, chắt bỏ nước tương, phần còn lại dùng uống.