(Vị thuốc thượng phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Am lư tử là hạt chín của cây am lư, là loại thực vật họ cúc. Thường ra hoa vào tháng 7, tháng 9 ra quả, tháng 10 có thể thu hái gốc rễ. Sau khi lấy về phải phơi khô trong bóng râm.
Bản kinh có viết: Am lư tử vị đắng, tính hơi hàn. Có thể chữa chứng tụ máu trong ngũ tạng, phù nề trong khoang bụng, đầy hơi, tà nhiệt lưu lại lâu trong cơ thể, tắc nghẽn, phát nhiệt. Ngoài ra, am lư tử còn có tác dụng trị liệu với các loại bệnh phong thấp do tà khí phong hàn xâm nhập vào cơ thể, các chứng bệnh đau nhức liên quan. Dùng lâu dài có thể làm cho cơ thể nhẹ nhõm, kéo dài tuổi thọ.
Đông y cho rằng, am lư tử có vị đắng, là loại thuốc chủ yếu dùng cho gan, máu, dây thần kinh, thiên về tan chứng nghẽn máu. Vì vậy, trong Bản kinh có viết: Am lư tử có tác dụng trị tắc nghẽn máu trong ngũ tạng. Trong Y học lâm sàng hiện đại, lư tử thường dùng trị các chứng nghẽn máu, bế kinh ở phụ nữ, đau bụng do tắc nghẽn máu sau khi sinh, vết thương do bị ngã và bệnh phong thấp. Ngoài ra, am lư tử còn có tác dụng trừ thấp lợi tiểu, tiêu sưng; giúp tiểu tiện dễ dàng. Vì vậy, có tác dụng trừ các chứng bệnh phù nề khoang bụng, tiểu tiện không thông.
Trừ thấp, lợi tiểu, tiêu sưng.
Trị chứng phù nề khoang bụng, tiểu tiện không thông.
Đau bụng do tắc nghẽn máu sau khi sinh, vết thương do bị ngã và bệnh phong thấp.
Trị tắc nghẽn máu trong ngũ tạng, chứng nghẽn máu, bế kinh ở phụ nữ.
Trị chứng đau bụng sau khi sinh
Am lư tử hoàn: Am lư tử, đào nhân, mỗi loại 25g. Cho 2 nguyên liệu trên vào sao đến khi hơi có màu vàng, sau đó nghiền nhỏ, cho mật ong vào trộn đều và nặn thành viên bằng hạt ngô, có thể uống bất kể thời điểm nào. Mỗi ngày uống 20 viên với cảnh nóng.
Trị chứng tụ máu tạo thành ung nhọt
Cây am lư sống, đun cùng nước, lấy 1 lít nước cốt, chia ra uống.