(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)
Từ Bản kinh chúng ta biết được thực căn là loại thuốc tốt dùng để nối liền xương cốt. Tuy nhiên, người đời nay hiểu biết rất ít về vị thuốc này, những nghiên cứu về nó vẫn đang được tiến hành.
Dược thực căn vị cay, tính ôn. Công hiệu chủ yếu là tiêu trừ tà khí, chủ trị các cơn đau nhức do phong thấp gây ra, làm lành các tổn thương về xương cốt, bổ cốt, tủy.
Dược thực căn vị cay nên có thể tán, tiêu trừ các loại tà khí, trị các triệu chứng tê, còn có thể bổ gan, thận, lợi các khớp xương, tráng kiện gân cốt. Trong lâm sàng thời cổ đại, nó thường được dùng để điều trị các cơn đau, tê bì do hàn thấp và gãy xương.
Liên quan đến vị thuốc dược thực căn, có rất nhiều quan điểm của những nhà Y học trong lịch sử. Cát Hồng trong Trửu hậu bị cấp phương đã nói: Đạo Bà La Môn gọi đó Ịà cay na sơ. Người Trung Quốc gọi nó là dược tử, bỏ cùi lấy nhân ở trong nghiên cứu tỉ mỉ, có thể điều trị nhiều loại bệnh. Trong Đường bản thảo cũng có nhưng ghi chép kể về loại thuốc này được ứng dụng rất rộng rãi, tên gọi là na sơ. Na sơ sinh trưởng ở những nơi có dòng nước chảy qua hoặc nơi giao nhau của những dòng sông. Hạt của nó vị cay, tính bình, không độc, lá giống với lá mơ, hoa có màu đỏ, trắng, trong hạt có vị chua, khi dùng làm thuốc chỉ lấy nhân. Tuy nhiên, trong Bản kinh có viết: “Dược thực căn” (rễ dược thực) là không thích hợp.
Tuy nhiên, dược thực xét cho cùng là vị thuốc như thế nào cho đến ngày nay vẫn chưa có những luận điểm đồng nhất. Trong văn tự ghi chép thời cổ về nó vẫn đang đợi những khảo chứng khoa học.
Trừ tà khí, chủ trị các cơn đau nhức do phong thấp gây ra, liền gân cốt, bồi bổ cốt tủy.
Có tác dụng bổ gan thận, lợi khớp xương, cường gân tráng cốt, có thể trị chứng đau, tê bì do hàn thấp và gãy xương.
Trị bệnh biếu cổ
Lấy dược thực căn 400g, ngâm trong 10 lít rượu, đậy thật kín miệng bình, dùng lửa sao trong 1 giờ, đợi rượu nguội mở nắp ra. Người bị bệnh uống 1 thìa.