(Vị thuộc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)
Theo Bản thảo cương mục lá hoàng hoàn màu vàng mà tròn, vì vậy mới có tên gọi là hoàng hoàn. Hoàng hoàn là họ cây dây leo, nên còn gọi là tựu cát. Còn về hoàng hoàn rốt cuộc là vị thuốc gì cho đến nay vẫn chưa có kết luận.
Hoàng hoàn vị đắng, tính bình. Chủ trị các bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng như cổ độc, sốt ác tính, có thể trừ tà khí tích tụ trong tạng phủ, trị ho khó thở, lúc nóng, lúc lạnh.
Hoàng hoàn vị đắng, có thể hạ hỏa nhiệt, tính bình mà không táo. Vì thế có thể thanh phổi tiêu đờm, hóa ứ lợi thủy, trị ho do phế nhiệt, hoặc phế âm thiếu hụt dẫn đến ho khan, không có đờm, cũng có thể dùng trị thủy thấp ứ đọng, ứ huyết cản trở lưu thông kinh mạch, phù thũng, tiểu tiện khó.
Tuy nhiên, hoàng hoàn ngày nay rất hiếm gặp, tính trạng và công dụng trị liệu liên quan chỉ thông qua số ít ghi chép trong những bản thảo mà biết được, thiếu thực tế và nghiệm chứng. Vì vậy, hoàng hoàn có lai lịch như thế nào phải đợi những nghiên cứu tiếp theo.
Trị ho phế nhiệt, hoặc phế âm không đủ dẫn đến ho khan, không có đờm.
Trị thủy thấp ứ đọng, ứ huyết cản trở lưu thông kinh mạch, phù thũng, tiểu tiện khó.
Trị khí huyết lục phủ ngũ tạng thiếu hụt, tạng khí không ổn định
Thập hoàng tán: Hoàng hoàn, trạch tả, sơn thù du, mỗi loại 1,5g, hùng hoàng, nhân sâm, mỗi loại 3,65g, hoàng linh, đại hoàng, quế tâm, hoàng kỳ, hoàng bách, tế tân, mỗi loại 2,25g, hoàng liên, hoàng hôn, bồ hoàng, ma hoàng, mỗi loại 0,75g. Các vị thuốc trộn đều, nghiền thành bột, mỗi lần uống 1g với rượu nóng, mỗi ngày uống 3 lần. Nếu uống xong mà không khỏi, có thể tăng liều lượng lên 2g. Người thể chất yếu có thể tăng thêm 3,75g nhân sâm.
Trị ho, tức ngực, ợ hơi
Tế tân, hoàng hoàn, mỗi loại 1,5g, thục tiêu 5g, gừng khô 3,5g, ngô thù du 3g, khoản đông hoa, tử uyển, hạnh nhân, mỗi loại 2,25g, dự thạch (nếu không có dùng phàn thạch), ô đầu, xương bồ, mỗi loại 0,75g. Tất cả đem nghiền thành bột, thêm mật ong nặn thành viên bằng hạt ngô. Mỗi lần ngậm 1 viên, ngày 5 - 6 lần.