(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)
Man tiêu là cuống, quả và hoa của cây hương tiêu loài thực vật thuộc họ cam quýt, còn được gọi là gia tiêu. Cây sinh trưởng trong rừng hoặc nơi cây cối rậm rạp. Cành cây giống như dây leo, hạt và lá đều giống với quả hồ tiêu, do đó mới có tên gọi như vậy.
Man tiêu vị đắng, tính ôn. Chủ trị các loại bệnh phong thấp, khớp xương toàn thân đau nhức, có thể tiêu trừ chứng chân tay lạnh, những cơn đau ở đầu gối.
Người đời nay thường cho rằng, man tiêu vị cay, đắng, tính ôn, có một chút độc. Vị đắng có thể giáng tiết, tính ôn có thế khứ hàn, trừ thấp, cho nên có tác dụng trừ phong, giảm đau, lưu thông kinh mạch, khí huyết. Man tiêu cùng tần tiêu, hoa tiêu về hình dáng, công hiệu gần giống nhau, đều là loại thuốc tốt dùng để trừ phong, ngừng đau, tán hàn trừ thấp. Điểm không đồng nhạt ở chỗ man tiêu chủ yếu được dùng để tiêu trừ các chứng ngoại cảm hàn thấp, có công hiệu đặc biệt nổi bật đối với các triệu chứng bệnh như những cơn tê đau do phong hàn, thấp, các khớp xương toàn thân đau nhức, chân tay lạnh. Ngoài ra, man tiêu có thể trị chứng co rút do trúng phong tà. Rễ của man tiêu cũng có thể dùng làm thuốc, trị bệnh trĩ, phương pháp là sao man tiêu lên rồi dùng, đồng thời nấu lấy nước.
Tuy nhiên, do man tiêu tính vị cay nên những người âm suy hỏa thịnh không nên dùng.
Chủ trị co rút do trúng phong tà.
Trị các cơn tê đau do phong hàn thấp, các khớp xương toàn thân đau nhức, chân tay lạnh.
Rễ của nó có thể trị bệnh trĩ.
Có thể tiêu trừ chứng chân tay lạnh, những cơn đau ở đầu gối.
Trị phù thũng toàn thân
Lấy cành, lá của man tiêu, nấu thành dạng cô đặc. Mỗi lần bụng đói dùng 1 thìa.