(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Sưu sơ là quả cây sưu sơ họ tai hùm (Saxifragaceae), cành nhỏ màu đỏ nâu, cành già trơn nhẵn, vỏ cây mỏng tróc thành từng mảng. Hoa màu trắng hoặc có đốm, chủ yếu có ở các vùng Chiết Giang, An Huy, Sơn Đông, Tứ Xuyên, Giang Tô.
Sưu sơ vị cay, tính hàn. Có thể trị tà nhiệt tích lũy trong cơ thể và dưới da, trừ tà khí, trị tiểu són, có thể đun thành nước tắm.
Ngày nay người ta cho rằng, sưu sơ vị cay, đắng, tính hàn, quy về vị, phế kinh. Vì vị đắng có thể tả, tính hàn có thể thanh, vì vậy có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa, lợi thủy thuận khí, trị hỏa nhiệt dẫn đến nóng trong. Vì nó chủ về hạ hành, nên còn có tác “dụng thông thủy lợi tiểu tiện, thông ứ trệ. Ngoài ra, trong Bản thảo cương mục có ghi chép: Sưu sơ còn có thể trị 36 bệnh hạ tiêu ở phụ nữ, Thiên kim phương có nhắc đến “thừa trạch hoàn” có vị chính là sưu sơ.
Trị tà nhiệt tích lũy trong cơ thể và dưới da.
Có tác dụng thông lợi thủy tiểu tiện thông ứ trệ.
Trị các chứng bệnh hạ tiêu ở phụ nữ và vô sinh
Thừa trạch hoàn: Sưu sơ 6g, mai hạch nhân 15g, tân di 10g, cát thượng đình trường 7 cái, trạch lan tử 7,5g, cảo bản 3g. Các vị thuốc trộn đều nghiền thành bột, dùng mật nặn thành viên bằng hạt đậu tương. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 viên với rượu trước bữa ăn, nếu không khỏi thì cần tăng dần liều lượng.