(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Giun đất cổ trắng còn gọi là địa long, khâu dẫn, ca nữ, dùng làm thuốc 3 được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh. Người ta bắt giun cho vào tro rơm, rội nước cho sạch chất nhầy nhớt, dùng đinh đóng đuôi giun vào miếng gỗ, lấy dao sắc rạch bụng, lấy nước ấm rửa sạch phơi hay sấy khô dùng làm thuốc.
Giun đất cô trắng vị mặn, tính hàn. Chủ trị kết u ở bụng, có thể diệt, các loại ký sinh trùng, tiêu trừ sốt ác tính, cô độc, còn có thể tiêu diệt rắn.
Giun đất cổ trắng vị mặn, tính hàn, quy về can, thận, phế kinh. Vị mặn có thể vào máu, tính hàn có thể thanh nhiệt tả hỏa, lại nhập can, vì vậy có tác dụng lọc gan thải độc, thanh nhiệt làm mát; nhập phế, thận, có thể thanh phổi điều hòa nhịp thở, tiêu tán nhiệt uất kết ở bàng quang. Trong lâm sàng, chủ yếu dùng trị co giật do bị trúng phong, sốt cao, phế nhiệt dẫn đến ho, còn có tác dụng lợi tiểu. Giống như Lý Thời Trân đã từng nói: Giun đất bản thân thuộc Thổ, trên ăn bùn, dưới uống nước suối. Vì tính hàn mà hạ hành còn có thể chữa các loại bệnh nhiệt, hạ hành có thể thông tiểu tiện, trị các bệnh ở chân, lưu thông kinh lạc.
Giun đất cổ trắng vào máu có thể hoạt huyết, lại có thể thông lạc kinh mạch, do đó có thể trị phong tê thấp và bán thân bất toại. “Xà hả” mà trong Bản kinh nhắc tới chính là những dải kết u hình rắn. cổ nhân cho rằng: “Hình của nó dài lớn, trên dưới rốn hay hai bên sườn, không thể thổ khí được, đau thắt lưng, khó cử động, nóng bụng trên, co thắt bàng quang, tiểu tiện vàng đỏ, giữa hai kinh đau”. Vì giun đất vị mặn có thể tán kết, tính hàn có thể trừ nhiệt, chủ trị hạ hành. Ngoài ra, Bản thảo cương mục có ghi chép lại: Giun đất cổ trắng nghiền ra dùng muối pha thành nước, có thể trị các bệnh nhiệt ở trẻ, còn có thể bôi lên các vết lở loét, đắp vào vết thương trên đầu gối; trộn với hành có thể trị tai điếc, sao khô giun lên nghiền thành bột, có thể giải độc do rắn và nhện cắn, còn có tác dụng trị liệu nhất định với chứng chân bị cước và sốt rét.
Y học hiện đại đã nghiên cứu và chứng minh, giun đất cổ trắng có chất lumbritin, lumbrofebin, terrestro lumbrolyzin và các thành phần khác, có tác dụng hạ huyết áp lâu dài, giải nhiệt tốt và dẫn tới khí quản.
Có tác dụng hạ huyết áp lâu dài, giải nhiệt tốt và dẫn tới khí quản.
Chủ trị “xà hả”, có thể diệt các loại ký sinh trùng, tiêu trừ sốt ác tính, cổ độc.
Trị co giật do trúng phong, sốt cao, phế nhiệt dẫn đến ho, còn có tác dụng lợi tiểu.
Trị thương hàn nhiệt kết
Giun đất lớn 25g, rửa sạch bùn, dùng nước tiểu người nấu thành nước uống, hoặc nghiền nát giun sống rồi uống cũng được.
Trị các chứng sốt rét
Giun sống 4 con, rửa sạch, nghiền quánh lại, thêm nước gừng tươi, nước bạc hà, chút mật ong, uống với nước.
Trị tiểu tiện khó
Quấy nát giun lên, ngâm trong nước, lọc lấy nửa bát nước đặc rồi uống.
Trị người già khó đại tiện
Giun, hồi hương, thành phần bằng nhau, trộn lên quấy nát rồi lấy nước uống.
Trị bìu dái trẻ sưng to
Nghiền nát giun lẫn đất rồi đắp lên vết thương.
Trị trẻ nhỏ hay giật mình, hoảng sợ
Nhũ hương 1,5g, hồ phấn 3g, trộn lên nghiền thành bột, thêm giun sống rửa sạch, quấy nát, trộn với bột thuốc nặn thành viên bằng hạt đậu. Mỗi lần uống 7 - 15 viên, uống với nước hành trắng.
Trị mắt sưng đỏ do gió
Giun 10 con, sao lên nghiền thành bột, mỗi lần uống 9g với trà.
Trị chảy máu chân răng
Bột giun đất, phèn chua, mỗi loại 3g, thêm chút xạ hương, rồi đắp vào chỗ đau.
Trị thịt thừa trong mũi
Giun (rang lên) 0,3g, bồ kết 1 quả. Các vị thuốc trộn đều nghiền thành bột, điều với mật đắp vào vết thương, sau đó dùng nước sạch rửa là được.
Trị tai ra mủ
Giun đất sống, nhọ nồi, mỡ lợn sống. Các vị thuốc trộn đều nghiền nhỏ, thêm nước hành, lấy vải xô bọc thuốc rồi đắp vào trong tai.