(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Dương trịch trục là hoa của hoàng đỗ quyên, thuộc họ đỗ quyên, có tên khác là náo dương hoa. Vì độc tính cao, nên mới có tên dương trịch trục. Thời gian nở hoa là tháng 4 - 5, hoa nở rộ sẽ có màu vàng kim.
Dương trịch trục vị cay, tính ôn. Chủ trị đau nhức do phong thấp, sốt rét, còn có thể giải độc, trị các loại phong thấp.
Dương trịch trục có tác dụng trừ phong, giảm đau, trừ thấp, tiêu sưng. Vì vậy, bản kinh dùng nó chủ trị đau nhức do phong tà xâm nhập dưới da gây nên và viêm khớp do tà khí tụ lại trong các ổ khớp. Bản thần dương trịch trục rất độc, nhưng lại có tác dụng sát trùng tiêu độc, có thể trị hắc lào, sốt rét, nhiễm độc.
Y học hiện đại đã nghiên cứu và chứng minh, dương trịch trục có tác dụng giảm đau rõ rệt, hạ huyết áp giảm nhịp tim và sát trùng. Trong lâm sàng hiện đại, nó thường được ứng dụng vào 3 phương diện: Một là giảm đau, có thể trị phong thấp, đau do ngã hay bị thương. Hoa của nó có thể trị suy nhược thần kinh, đau nửa đầu và sâu răng. Hai là gây tê, có thể dùng để gây tê vùng đầu, cổ, ngực, bụng trong phẫu thuật. Ba là trị nhịp tim đập quá nhanh hay cao huyết áp, thông thường bào chế quả dương trịch trục thành thuốc sắc hay thuốc viên. Ngoài ra, rễ của nó cũng có thể dùng để trị ho do phế hàn gây nên, đờm nhiều, hoa còn có thể trị bệnh vảy nến.
Độc tính của dương trịch trục rất cao, trong khi đó độc tính của hoa và lá còn mạnh hơn rễ. Tương truyền, trong lịch sử, một trong những thành phần của phương thuốc “Mông hãn dược” (thuốc mê) chính là hoa của cây thuốc này, dùng nước ép hoa này với rượu có thể gây tê, theo đó là mất cảm giác. Theo nghiên cứu của dược lý hiện đại cho rằng, thành phần độc tính của hoa dương trịch trục co andromedo - toxin, ericolin, lá của nó có độc tố tương tự như độc tố của hoa đỗ quyên. Nạn nhân sau khi bị trúng độc sẽ nôn ọe, tiêu chảy, đau bụng và giảm huyết áp, loạn nhịp tim, hô hấp khó khăn, đến khi ngừng thở thì tử vong. Vì vậy, sử dụng trong từng trường hợp nhất định phải khống chế định lượng, đồng thời quan sát chặt chẽ phản ứng của bệnh nhân. Một khi trúng độc, phải lập tức rửa ruột, hút độc, đồng thời dùng một số vị thuốc tăng áp để điều chỉnh nhịp tim, hiện tượng sốc và giảm huyết áp, cũng có thể sắc quả dành dành lấy nước uống giải độc.
Giảm đau, trị phong đau do ngã hay bị thương.Hoa của nó có thể trị suy nhược thần kinh, đau nửa đầu và sâu răng.
Trị các cơn đau do viêm khớp dạng thấp và viêm khớp do tà khí tụ lại trong các ổ khớp.
Có tác dụng sát trùng giải độc,có thể trị liệu bệnh vảy nến, sốt rét…
Trị phong đàm, chỉ thống
Hoa dương trịch trục, thiên nam tinh, mỗi thứ một phần bằng nhau. 2 vị thuốc trên giã nát, nặn làm bánh hấp 4 - 5 lần, sau đó dùng vải bọc lại bảo quản. Khi dùng thì lấy ra sấy khô, nghiền nhỏ nặn thành viên bằng hạt ngô, mỗi lần dùng rượu nóng uống 3 viên. Nếu xương ở vùng chân, lưng đau có thể dùng khi bụng đói, nếu là tay thì dùng sau ăn.
Trị phong thấp viêm khớp, đau khớp chân tay, nói không rõ ràng
Buổi sớm lấy hoa dương trịch trục trộn với rượu rồi hấp lên, phơi khô, nghiền thành bột. Mỗi lần lấy 1,5g, điều chế với 100ml sữa bò và 200ml rượu rồi dùng.
Trị đau đầu, đau họng do thương hàn, lở loét ác tính, mụn nhọt, lở loét trên đầu ở trẻ nhỏ.
Dương trịch trục, thiên hùng, ô đầu, mãng thảo, mỗi loại 9g. Các vị thuốc trên trộn đều, thái nhỏ, dùng 600ml rượu ngâm 1 đêm, dùng 144g mỡ lợn đun lên, thêm thuốc đã chế trước đó rồi đun tiếp. Khi sôi nổi bọt thì để nguội rồi đun tiếp, làm lại 12 lần, bỏ cặn là có thể dùng. Nêu trị đau đầu do thương hàn, có thể lấy cao nóng xoa bóp toàn thân, đồng thời dùng rượu uống 1 viên hạnh nhân. Lấy bã thuốc đắp chân cho toát mồ hôi. Nếu trị đau do viêm ác tính, mụn nhọt, lở loét đầu ở trẻ nhỏ, thì dùng nước muối rửa bề mặt vết thương trước, lau khô rồi mới bôi thuốc. Nếu trị sưng đau, có thể lấy cao nóng để xoa, mỗi ngày 2 lần. Nếu trị đau họng do thương hàn, thì có thể ngậm 1 quả táo, mỗi ngày 3 lần.