(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Lang độc dùng làm thuốc là phần rễ của cây đại kích lang độc, nguyệt tuyến đại kích, kê tràng lang độc hoặc đại lang độc thuộc họ đại kích.
Tương truyền, muông thú ăn nhầm phải lá cây này chết ngay tức khắc. Cái tên lang độc là để thể hiện độc tính rất mạnh của nó.
Lang độc vị cay, tính bình. Chủ trị ho khó thở, tà khí tích tụ hình thành chứng sưng phù, trị chứng khó tiêu, lúc lạnh lúc nóng, phù nề, ghẻ lở ác tính. Ngoài ra, nó còn có thể trừ tà bệnh không rõ nguồn gốc và cô độc. Độc tính của nó có thể tiêu diệt chim muông, cầm thú.
Đa phần hiện nay đều cho rằng, lang độc vị cay, đắng, tính bình, có độc, quy về phế kinh. Vị cay nên có thể hành tán, vị đắng có thể giáng tiết nên từ xưa nó luôn được coi là lương dược phá tích tụ. Vì quy về phế kinh nên có thể thông khí trừ viêm, còn có thế trục thủy ở hạ tiêu. Theo nguyên lý lấy độc, trị độc, lang độc còn có tác dụng giải độc sát trùng. Trong lâm sàng hiện đại cho rằng, phê không thông dẫn đến ho tức ngực, còn có thể trị phù thũng, bụng trướng, đại tiểu tiện khó, đờm nhiều, giun sán, đau ngực bụng, lở loét ác tính, ung nhọt, tràng nhạc, ghẻ lở, trĩ lở loét.
Nhiều sách thuốc sau này còn lấy một số ví dụ về công hiệu của lang độc, như Bản thảo cương mục có viết: Có thể trừ tụ khí trong lồng ngực, trị chứng đàm thực, diệt chuột. Trong Bão Phác tử có viết: Cùng với dã cát nhét vào tai có thể trị tai điếc... Những quan điểm trên đều có giá trị tham khảo.
Lang độc có độc tính cao, trong Khai hảo bản thảo có viết: Lang độc, lá như thương lục và đại hoàng, phiến lá có lông, vỏ rễ màu vàng, thịt rễ trắng. Vì độc tính của nó lớn, cho nên rất ít người sử dụng.
Có thể trị sưng phù, trị chứng khó tiêu, lúc nóng lúc lạnh, ghẻ lở ác tính, cổ độc…
Trị ho do phổi sưng.
Có tác dụng giải độc, sát trùng.
Trị ngực bụng đau âm ỉ, căng trướng
Lang độc 62g, phụ tử 15,6g, nghiền nhỏ, trộn đều, thêm mật ong nặn thành viên bằng hạt ngô. Ngày đầu tiên dùng 1 viên, ngày thứ hai dùng 2 viên, ngày thứ ba dùng 3 viên. Sau đó lại dùng bắt đầu từ 1 viên, đến đến viên thứ 3 thì dùng lại liều lượng như ban đầu. Đến khi khỏi hẳn thì dừng.
Trị 9 loại bệnh đau tim (trùng, trụ, phong, quý, thực, ẩm, lãnh, nhiệt, khí)
Cửu thông hoàn: Lang độc (sấy thơm), ngô thù du (đun sôi thành bọt), ba đậu (bỏ lõi, rang), gừng khô (sao), nhân sâm, mỗi loại 31g; phụ tử (sao, bỏ vỏ) 93g. Các vị thuốc trên trộn đều nghiền thành bột, thêm mật ong nặn thành viên bằng hạt ngô, dùng 1 viên với rượu ấm khi đói.
Trị đau lạnh bụng, dưới tim kết đàm, hai bên sườn trương cứng
Lang độc, tuyền phác hoa mỗi loại 93g, phụ tử 31g. Các vị thuốc trên trộn đều nghiền thành bột, thêm mật ong nặn thành viên. Mỗi lần lấy 3 viên, uống với nước lọc sau ăn, mỗi ngày 3 lần.
Trị giun sán
Lang độc nghiền thành bột, mỗi lần lấy 3g, thêm lượng đường cát phù hợp, pha với nước, uống trước khi đi ngủ, hôm sau giun sẽ được bài thải theo phân.
Trị vảy nến, gãi chảy nước vàng, gặp trời mưa là ngứa
Dùng lang độc nghiền thành bột rồi đắp lên vùng da kết vảy.