(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)
Lư nhứ còn gọi là lan nhứ, là rễ của cây lan nhứ loài thực vật thuộc họ thầu dầu. Thời gian hái lá vào tháng 3, tháng 4 - 5 lấy rễ, phơi khô trong bóng râm.
Lư nhứ vị cay, tính hàn. Chủ trị bệnh lở loét, loại bỏ nhiễm trùng, điều trị viêm ác tính, da thịt hoại tử, có thể trị ghẻ lở, bài trừ nhiễm trùng máu, loại bỏ khí phong tà nhiệt nghiêm trọng trong cơ thể, còn có tác dụng điều trị chứng hay quên và trầm cảm.
Lư nhứ vị mặn khi vào máu, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu sưng, bài mủ, lở loét hoại tử, cũng có tác dụng loại bỏ khí phong nhiệt, tăng cường trí nhớ, cải thiện chất lượng giấc ngủ. Lại do có tính ăn mòn mạnh nên có thể điều trị các chứng bệnh viêm sưng lở loét, ghẻ lở ngứa ngáy. Trong sách Bản kinh có viết: “Hiệu quả trị lở loét ác tính, trị hoại tử cơ, ghẻ lở, bài trừ mưng mủ” chính là ý nghĩa này. Trong Bản thảo cương mục cũng ghi: “Trừ chứng tê bì do nhiệt, thoát vị, loại bỏ thịt thừa”. Ngoài ra, trong các phương thuốc cổ ghi lại: Dùng ô tích cốt; lư nhứ nặn thành viên, có thể trị khí huyết không thông ở phụ nữ, còn làm tiêu tan chứng phù nề thân thể do máu ứ trệ gây nên.
Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu sưng, bài mủ,lở loét hoại tử, cũng có tác dụng loại bỏ khí phong nhiệt, tăng cường trí nhớ, cải thiện chất lượng giấc ngủ.
Trị chứng ung nhọt độc, ngứa ngáy ghẻ lở.
Điều trị đau họng do thương hàn, sưng phù do nhiễm độc
Lấy một đoạn lư nhứ kích thước bằng móng tay, cho vào miệng nhai rồi nuốt. Có cảm giác dịu mát là tốt.