(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)
Lục anh là loại cây sóc hoắc thuộc nhóm thực vật họ nhẫn đông. Nó còn được gọi là tiếp cốt thảo, tú anh. Hoa thường nở vào thời gian tháng 6 - 8, kết quả vào tháng 9-10. Người ta thu hái vào mùa hạ và mùa thu, phơi khô và cất trữ. Lục anh thường mọc chủ yếu ở khu vực phía nam sông Trường Giang.
Lục anh hay còn gọi là tiếp cốt thảo vị đắng, tính hàn. Chủ trị chứng tê bì các khớp, tứ chi co quắp, đau nhức, lưng đau gối lạnh, đau; còn có thể chữa liệt dương, phiền muộn, suy nhược, phù chân.
Quan niệm hiện đại cho rằng, lục anh vị đắng, cay, tính ôn, quy về thận kinh. Vì vị cay có thể hành tán, vị đắng “có thể táo bổ, cho nên nó được cho là lương dược trừ phong thấp, tán hàn, bổ thận. Trong lâm sàng, lục anh được dùng để chữa chứng tê bì các khớp xương, tứ chi co quắp, đau nhức, đau đầu gối, tức “tê các khớp xương, tứ chi co quắp đau nhức, đau buốt đầu gối” như trong Bản kinh có đề cập tới. Lục anh quy vào thận kinh, có công dụng bổ thận, chữa bệnh liệt dương, thở gấp, khí hư nhược, phù chân rất tốt.
Căn cứ y học hiện đại đã nghiên cứu và chứng minh, lục anh có chứa thành phần: Flavonoids, tannin, đường, rễ của nó ngoài chứa hàm lượng lớn chất tannin, đường nguyên chất ra còn có chứa alcaloit, có công dụng giúp liền xương nhanh và tiêu sưng.
Trị chứng tê bì các khớp, tứ chi co quắp đau nhức, lưng gối đau lạnh.
Trị chứng bệnh như liệt dương ở nam giới, thở gấp, khí hư nhược, phù chân.
Có công dụng giúp liền xương nhanh và tiêu sưng.
Trị cước khí, thủy khí hư thũng, dị ứng da
Lục anh lượng vừa đủ, đun lấy nước cho thêm chút rượu để tắm.
Trị mề đay sắc trắng hoặc đỏ
Lục anh sắc lấy nước uống, đồng thời đun lục anh lấy nước, hòa với chút rượu để tắm.
Trị đan độc
Lục anh tươi, giã nát, đắp lên vùng bị bệnh.