Thạch cao - Đặc tính, công dụng và phương thuốc trị liệu

117 11/05/2019
Skhoe24h.com - Thạch cao là một vị thuốc trung phẩm trong thần nông bản thảo kinh. Chủ trị triệu chứng phát sốt, sợ lạnh do trúng phong độc, có thể tiêu trừ các triệu chứng khí cơ thượng nghịch, sợ hãi khó thở, miệng khô lưỡi rát, hít thở khó khăn, đau bụng khó chịu...

THẠCH CAO

(Vị thuốc trung phẩm trong thần nông bản thảo kinh)

Thạch cao - Đặc tính, công dụng, phương thuốc trị liệu

Giải thích tên gọi của Thạch cao

Thạch cao là khoáng vật trầm tích hay phong hóa rất mềm, với thành phần là muối canxi sulfat ngậm 2 phân tử nước (CaSO4.2H2O). Tinh thể dạng hạt, bột... còn có một lượng ít trong các nguyên tố như acid silixic, nhôm, hydroxit, magiê, sắt. Trong Đông Y học còn được gọi là bạch hổ, cho nên các bài thuốc chủ trị của thạch cao đa số lấy tên gọi là bạch hổ, như “bạch hổ thang”.

Đặc tính của thạch cao

Thạch cao vị cay, tính hàn. Chủ trị triệu chứng phát sốt, sợ lạnh do trúng phong độc, có thể tiêu trừ các triệu chứng khí cơ thượng nghịch, sợ hãi khó thở, miệng khô lưỡi rát, hít thở khó khăn, đau bụng khó chịu. Ngoài ra, còn có thế loại trừ các nhân tố gây bệnh xâm nhập vào cơ thể, điều trị các chứng bệnh ở phụ nữ sau khi sinh, trong thời kỳ cho con bú, đồng thời còn có thể điều trị ngoại thương do kim loại gây ra.

Trong lâm sàng, thạch cao được sử dụng có thạch cao sống và thạch cao nung, nó có sự khác biệt trong việc điều trị dùng để uống hay dùng bên ngoài. Thạch cao sống chủ yếu dùng sắc lấy nước uống, có công hiệu tốt thanh nhiệt hạ hỏa trừ khát nước, điều trị đau đều, đau răng do bệnh cảm nhiệt, sốt, khát nước, ho, gan nóng và tỳ vị nóng gây ra. Thạch cao nung là thạch cao sống qua quá trình tôi luyện mà thành, chủ yếu dùng bên ngoài, có hiệu quả thanh nhiệt, chữa lở loét, sinh cơ, có thể điều trị các triệu chứng lở loét không tập trung, vết thương lâu ngày không khỏi, vết thương do bị bỏng nước lửa, chảy máu ngoài vết thương, nổi ban ngứa ngáy. Căn cứ theo thực tiễn lâm sàng cho thấy, dùng bột thạch cao bôi lên vết thương có thể làm giảm sự chảy nước vàng ở miệng vết thương, chống nhiễm cảm, nhanh đóng vẩy, miệng ra vết thương mau lành. Bột thạch cao sau khi dùng dầu cây trẩu hoặc dầu lạc điều chế thành dạng cao lấy bôi ngoài vết thương có hiệu quả rất tốt cho vết thương nhanh liền miệng. Theo phân tích của dược lý hiện đại, thạch cao sống có tác dụng giải nhiệt, ức chế sự bài tiết của tuyến mồ hôi, cho nên có thể giải nhiệt lại hạn chế ra mồ hôi. Thạch cao có tác dụng thu  nhân dịch vị trong dạ dày, có thể tăng cường canxi, từ đó ức chế mức độ căng cơ, có hiệu quả an thần và chống co thắt. Thạch cao nung dùng ngoài có tác dụng làm giảm tính thẩm thấu ở thành mạch nên dẫn đến tác dụng tiêu viêm.

Khái quát công dụng của Thạch cao

- Tiêu trừ các triệu chứng khí cơ thượng nghịch, sợ hãi khó thở, miệng khô lưỡi rát, hít thở khó khăn, đau bụng khó chịu.

- Dùng ngoài có hiệu quả thanh nhiệt, trị lở loét, sinh cơ, có thể điều trị các triệu chứng lở loét không tập trung, vết thương lâu ngày không khỏi, vết thương do bị bỏng nước, lửa, chảy máu ngoài vết thương, nổi ban ngứa ngáy

- Giải nhiệt lại hạn chế mồ hôi, ngoài ra còn có tác dụng an thần và chống co thắt.

- Dùng uống giúp thanh nhiệt hạ hỏa, trừ khát nước, điều trị đau đầu, đau răng do bệnh cảm nhiệt, sốt khát nước, ho, gan nóng và tỳ vị nóng gây ra

Phương thuốc trị liệu của Thạch cao (tham khảo)

Trị hen suyễn, đờm nhiều

Thạch cao và hàn thuỷ thạch. 2 vị thuốc này nghiền thành bột. Sắc với nhân sâm, sau khi ăn uống 9g.

Nguồn: Thần Nông bản thảo kinh

Tags: thạch cao, trung phẩm,

Loading...

Bạn cần tư vấn






Bài liên quan