(Vị thuốc trung phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Từ thạch là loại oxit khoáng vật có từ tính mạnh nhất (mangnetit). Theo sự giải thích của người xưa: “Từ thạch hút sắt, như người từ mẫu cuốn hút con cái của mình", cho nên có tên gọi như vậy. Từ thạch còn có tên gọi là linh từ thạch, do nó có màu đen nên cũng gọi là huyền thạch.
Từ thạch vị cay, tính hơi hàn. Chủ trị các triệu chứng toàn thân đau nhức do bệnh phong thấp gây ra, khớp chân đau mỏi không thể cầm giữ đồ vật; có thể làm giảm cảm giác sợ lạnh, phát run, cơ thể ở trạng thái gầy yếu suy nhược nghiêm trọng; tiêu trừ các triệu chứng sốt cao, đau tức lồng ngực, tinh thần bất an; ngoài ra còn có thể điều trị bệnh tai điếc.
Đông y cho rằng, lực từ của từ thạch càng mạnh thì dược tính càng cao. Theo Lôi công bào chính luận, dược tính tốt nhất trong các loại từ thạch là “diên niên sa”, thứ hai là “tục thái thạch”, phổ thông nhất là từ thạch. Nhưng từ thạch nếu đã sử dụng thì không thề làm thuốc. Các danh y đời sau thường cho rằng, từ thạch đen bóng có lực từ mạnh dùng làm thuốc là tốt nhất.
Từ thạch quy về can kinh, tâm kinh và thận kinh. Do có tính hàn cho nên khi vào tim có thể trừ các chứng nhiệt, phiền muộn, tinh thần bất an; vào thận có công dụng bổ thận, điều trị suy thận, tai điếc. Cũng vì có tác dụng dưỡng thận, mà thận chủ cốt, cho nên gân cốt tự nhiên khỏe mạnh, cũng trị dứt chứng “phong thấp tê liệt” như trong Bản kinh có nói tới. Hiện nay, y học đã nghiên cứu và cho rằng, công hiệu chính của từ thạch là làm mát gan, giúp tai thính, mắt sáng, chống co giật, giúp an thần, tiêu trừ bệnh hen suyễn. Trong lâm sàng, nó được dùng để điều trị các chứng bệnh suy gan, thận, hoảng sợ, mất ngủ, hoa mắt chóng mặt, thị giác kém, ù tai và điếc tai, bệnh động kinh.
Công hiệu quan trọng nhất của từ thạch là bổ thận. Đào Hoằng cảnh từng nói về từ thạch: “Đi vào thận, cường thận khí, ích tinh, trừ phiền não”; Lý Thời Trân khái quát: “Trị các loại bệnh về thận”. Trong lâm sàng hiện đại, công hiệu của từ thạch đa số thể hiện trên phương diện trị liệu từ trường. Sản phẩm trị liệu từ trường hiện nay vô cùng phong phú, phạm vi trị liệu đề cập đến hơn 100 loại bệnh thường gặp. Ngoài ra, có rất nhiều sản phẩm chức năng cũng liên quan đến tác dụng trị liệu từ trường.
- Mát gan, tai thính, mắt sáng, chống co giật an thận, tiêu trừ bệnh hen suyễn.
- Tiêu trừ các triệu chứng sốt cao, đau, tức lồng ngực, tinh thần bất an.
- Điều trị các chứng bệnh suy gan, thận, hoảng sợ, mất ngủ, hoa mắt, chóng mặt thị giác kém, ù tai và điếc tai, bệnh động kinh.
- Điều trị bệnh điếc.
- Chủ trị các triệu chứng toàn thân đau nhức do bệnh phong thấp gây ra, khớp tay chân đau mỏi không cắm giữ được đồ vật
- Có thể trị tất cả chứng thận hư.
Trị bệnh ù tai và điếc tai, tai như có tiếng gió thổi, nước chảy
Rượu từ thạch: Từ thạch 25g (giã nhỏ, bọc trong túi), mộc thông, xương bồ (ngâm trong nước vo gạo 1 - 2 ngày, cắt ra và sấy khô), mỗi loại 250g. Các vị thuốc trên bọc vào túi, ngâm với 10l rượu, trời lạnh ngâm 7 ngày, trời nóng ngâm 3 ngày, mỗi lần uống 300ml.
Trị điếc tai ở người già
Cháo từ thạch: Từ thạch 500g (giã nhỏ, rửa sạch màu đỏ, bọc trong túi), cật lợn 1 quả, dùng nước mưa nấu thành cháo. Có công dụng tăng cường sức khỏe, làm cho sắc mặt hồng hào.
Trị chứng điếc tai lâu ngày, dương thận, cường cốt khí
Canh cật từ thạch: Từ thạch 500g, cật lợn (làm sạch thái nhỏ). Lấy 5l nước nấu với từ thạch đến khi còn 2l, bỏ từ thạch đi rồi cho cật lợn vào, thêm hành, đậu nành, gừng, hạt tiêu nấu thành canh, ăn lúc đói.
Trị đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp
Từ thạch nung, đan sa (nghiền thành bột), bột lục khúc đem trộn đều thành dạng keo, nặn thành viên dùng dần.