Vị thuốc Ân nghiệt có công dụng trị bệnh như thế nào?

565 09/05/2019
Skhoe24h.com - Ân nghiệt là vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh. Ân nghiệt vị cay, tính ôn, chủ trị các loại vết thương thối giữa, ứ huyết, cổ kết thạch lâu ngày không khỏi, có thể dùng để trị chứng khí uất kết ở trong bụng gây nên phù thũng, u kết trong bụng, còn có thể tiêu trừ chứng lúc nóng, lúc lạnh do bệnh tả....

ÂN NGHIỆT

(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Công dụng trị bệnh của ân nghiệt

Giải thích tên gọi Ân nghiệt

Ân nghiệt là một loại nhũ đá. Bởi vì hình dáng của nó trông giống như củ gừng, cho nên còn có tên là khương thạch. Do khu vực phân bố không giống nhau nên màu sắc và tính chất của nó cũng khác nhau. Ân nghiệt ở trên vùng núi có màu nâu xám và thường cứng, khó vỡ, ở vùng gò đồi lại có màu trắng, mềm mà dễ vỡ.

Đặc tính của Ân nghiệt

Ân nghiệt vị cay, tính ôn, chủ trị các loại vết thương thối giữa, ứ huyết, cổ kết thạch lâu ngày không khỏi, có thể dùng để trị chứng khí uất kết ở trong bụng gây nên phù thũng, u kết trong bụng, còn có thể tiêu trừ chứng lúc nóng, lúc lạnh do bệnh tả.

Ngày nay, người ta thường cho rằng, tính vị và chủ trị của Ân nghiệt và Khổng công nghiệt là tương đồng. Nhưng dựa theo kinh nghiệm trong lâm sàng, hiệu quả của Ân nghiệt đối với việc tiêu trừ táo thấp tốt hơn, còn có thể trị mụn nhọt, lở loét, vết thương thối giữa, ứ huyết, u kết, bệnh lậu. Vị thuốc này còn có tác dụng trừ thấp, bệnh tả, kiết lỵ.

Ân nghiệt và Khổng công nghiệt đều thuộc loại khoáng vật cacbonat. Nguồn gốc, tính vị và công hiệu giống với chung nhũ thạch. Trong bản thảo cương mục từng tiến hành so sánh về mối quan hệ giữa 3 vị thuốc này. Ân nghiệt tương đồng với rễ nhũ thạch, khổng công nghiệt tương đồng với thân nhũ thạch, chung nhũ cũng giống như đầu nhũ thạch. Về cách dùng giữa ân nghiệt và khổng công nghiệt, đông y thời cổ đại cho rằng chúng đều không thích hợp làm thành viên hoặc tán ra, chỉ nên đun với nước, sau đó ngâm rượu để uống. Đến thời hiện đại có nhiều quan điểm cho rằng, phương pháp sử dụng của 2 vị thuốc này giống với chung nhũ thạch.

Khái quát công dụng của Ân nghiệt

- Dùng ngoài da để trị các vết thương, ứ huyết, tê liệt. Dùng bên trong để trừ thấp, ngừng tả, lỵ.

- Chủ trị ứ huyết, kết hạch ở cổ lâu ngày không khỏi, khí uất kết trong bụng gây nên phù thũng, tiêu trừ chứng lúc nóng lúc lạnh do bệnh tả.

Phương thuốc trị liệu của Ân nghiệt (Tham khảo)

Trị đinh nhọt lở loét, sưng đau

Lấy Ân nghiệt tán nhỏ, trộn đều với trứng gà, sau đó bôi bên ngoài chỗ đau, đến khi thuốc khô là được. Sau vài lần sử dụng có hiệu quả rõ rệt.

Trị vú có ung nhọt, sưng đau

Phương thức trị liệu giống như trên

Trị sau khi sinh bị chướng, tức khí

Khao kệ thạch, Ân nghiệt, mỗi loại lấy 1 phần, nghiền nhỏ, cho thêm giấm, trộn đều nặn thành viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 30-50 viên với nước ấm.

Trị phù thũng

Sao Ân nghiệt tới khi có màu đỏ, hòa với nước tiểu của con trâu, dùng nóng.

Nguồn: Thần Nông bản thảo kinh

Tags: ân nghiệt, hạ phẩm,

Bạn cần tư vấn






Bài liên quan