(Vị thuốc thượng phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Bạch tật lệ là loại quả chín phơi khô thuộc họ tật lê, còn có tên gọi khác lá thích tật lê, tật lê tử.
Hoa của nó nở vào tháng 6-7, quả chín vào tháng 8 - 9. Mùa thu khi quả chín thì thu hoạch, bỏ toàn bộ phần thân cây, rồi đem phơi khô quả, bỏ phần tạp chất còn lại để sử dụng làm thuốc.
Bản kinh có viết: Bạch tật lê vị đắng, tính ôn. Chủ yếu dùng để tiêu trừ nghẽn máu, máu xấu, có thể tiêu trừ kết khối rắn ở bụng, khí huyết bị tích tụ trong tạng phủ; chữa đau họng. Dùng lâu dài giúp săn chắc cơ bắp, cải thiện thị lực, cơ thể nhanh nhẹn, hoạt bát.
Đông y cho rằng, bạch tật lê vị cay, đắng, tính ôn. Vị cay có tác dụng tán, đắng có tác dụng tiết và còn quy về can kinh, do đó bạch tật lê có tác dụng thông gan, giải ứ trệ, thông khí huyết. Mặt khác, có thể tiêu tán phong nhiệt ở can kinh, có công dụng làm sáng mắt.Các chứng bệnh nói đến trong Bản kinh như máu xấu, sưng phù, kết khối rắn, cổ họng sưng đau dẫn đến nuốt thức ăn khó khăn, đểu là do khí huyết ứ trệ gây nên. Bạch tật lê có tác dụng hành khí hoạt huyết, do vậy có thể chữa được các chứng bệnh kể trên. Trên lâm sàng hiện đại thường dùng nó để trị chứng can khí ứ trệ, tức ngực khó thở, tắc kinh, đau bụng kinh, sưng vú, không tiết ra sữa, u vú. Bạch tật lê còn có tác dụng tiêu tán phong nhiệt ỏ can kinh, vì vậy có công dụng làm sáng mắt. Lâm sàng thường dùng để điều trị đau mắt đỏ, chảy nhiều nước mắt, sợ ánh sáng, đau đầu, chóng mặt. Theo phân tích và chứng minh của Y học hiện đại, bạch tật lê còn có tác dụng hạ huyết áp, kháng viêm và lợi tiểu.
Về chủng loại bạch tật lê, từ xưa đến nay đều cho rằng, bạch tật lê có 2 loại: Một loại được giới thiệu trong Bản kinh, tức là bạch tật lê; còn một loại là sa uyển bạch tật lê, còn gọi là sa uyên tử. Sa uyển tật lê vị ngọt, tính ôn. Chức năng chủ yếu là bổ thận, cố tinh, dùng trị bệnh thận hư, đau thắt lưng, di tinh, tiểu dầm, tiểu dắt, ra nhiều khí hư, cũng có thể dùng để dưỡng gan, làm sáng mắt, trị mát mờ, hoa mắt, chóng mặt. Theo nghiên cứu của Y học hiện đại, trong bạch tật lê có chứa vitamin A và chất béo, có tác dụng co tử cung và có lợi cho đường tiết niệu.
Điều trị can khí ứ trệ, tức ngực khó thở, tắc kinh, đau bụng kinh, sưng vú, không tiết ra sữa, u vú.
Điều trị đau mắt đỏ, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và đau đầu chóng mặt.
Thông gan, hành khí thông huyết, có tác dụng làm sáng mắt.
Có tác dụng hạ huyết áp, kháng viêm và lợi tiểu.
Trị bệnh đau sống lưng
Bạch tật lê nghiền nhỏ, trộn đều với mật ong rồi nặn thành viên nhỏ có kích thước bằng hạt đậu tằm. Mỗi lần uống 2 viên với rượu, ngày 3 lần. Nếu người bệnh bị phù toàn thân có thể dùng bạch tật lê đun lấy nước tắm.
Trị kinh nguyệt không thông
Bạch tật lê, đương quy, mỗi loại một ít, nghiền thành bột. Mỗi lần uống 9g với cháo loãng.
Trị chứng khó sinh
Bạch tật lê, bối mẫu, mỗi loại 125g. Tất cả đem nghiền thành bột, uống 9g với cháo loãng. Đợi một lúc nếu vẫn thấy khó sinh lại uống thêm 1 lần nữa.
Trị giun đũa
Lấy bạch tật lê thu hoạch vào đầu mùa thu, phơi khô trong bóng râm, đem nghiền nhỏ và báo quán cẩn thận. Mỗi lần uống 1 thìa, mỗi ngày 3 lần.
Chữa mắt mờ mạn tính
Lấy bạch tật lê thu hoạch vào đầu mùa thu, phơi khô trong bóng râm và nghiền nhỏ, uống với nước sau bữa ăn, mãi ngày 2 lần.
Trị răng bị lỏng
Bạch tật lê (bỏ gai), nghiền sống 15g, trộn 120ml nước đạm tương và một ít muối cho vào nồi sắc lấy nước thuốc. Lấy nước thuốc súc miệng với nhiệt độ thích hợp, sẽ thấy tác dụng trị liệu rõ rệt. Hoặc lấy bạch tật lê hơ lửa và đắp vào răng cũng có tác dụng làm chắc răng.
Trị bệnh lang ben
Lấy bạch tật lê 187g nghiền nhỏ. Mỗi lần uống 6g với nước nóng, mỗi ngày 2 lần. Uống trong khoảng nửa tháng, đến khi thấy vị trí bị bệnh từ màu trắng chuyển thành màu hồng, tức là thuốc đã có tác dụng. Dùng thuốc 1 tháng là có thể khỏi bệnh hoàn toàn.