(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Đậu đen là hạt của cây đậu đen, loài thực vật thân cỏ, sống 1 năm thuộc họ đậu. Vị thuốc này là hạt đậu đen ngâm nước cho nảy mầm rồi phơi khô mà thành, còn gọi là đậu thanh thủy. Chọn hạt tròn mẩy, màu đen tuyền, có vân và mầm ngắn là tốt nhất.
Hạt đậu đen vị ngọt, tính bình. Chủ trị chứng tê bì cơ bắp nghiêm trọng do thấp gây ra, mạch gân cốt co rút, đau các khớp xương ở đầu gối. Hạt đậu lớn còn nguyên dùng bôi ngoài có thể trị các chứng mụn nhọt sưng tấy, đun lấy nước để dùng, có, thể trị các loại bệnh truyền nhiễm đồng thời có tác dụng ngừng đau.
Đậu đen vị ngọt, tính bình, quy về vị kinh, vị ngọt nên đi vào tỳ, tính bình nên bổ trung, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc, toát mồ hôi, còn có thế lưu thông các mạch máu, thường dùng để điều trị các chứng say nắng như toàn thân phát sốt, sợ lạnh thân thể nặng nề, buồn phiền. Các kinh mạch, gân cốt co rút, khớp xương đầu gối đau nhức là do khí huyết tích tụ lại trong cơ thể. Nó có công hiệu trừ thấp, thông huyết. Mạch máu sau khi được lưu thông những cơn đau tự nhiên cũng biến mất, nên nó có tác dụng ngừng đau. Vì có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, nên trong Bản kinh có đề cập đến tác dụng trị liệu quỷ độc (trúng độc không rõ nguyên nhân) và các vết mụn sưng.
Lý Thời Trân cho rằng, trong các phương thuốc thời cổ đại, đậu đen được coi là vị thuốc có thể giải bách độc. Tuy nhiên, chỉ sử dụng độc lập thì hiệu quả không rõ rệt, nhất thiết phải kết hợp cùng cam thảo mới có thể phát huy được tác dụng. Ngoài ra, nếu cho thêm một chút muối vào đậu khi ăn, có thể bổ thận. Hình dáng của đậu gần giống với thận, vì cỏ màu đen nên có thể thông thận, cho thêm một chút muối hiệu quả sử dụng càng cao.
Đâu đen đun lấy nước dùng, sẽ có công hiệu thanh nhiệt, lợi thấp. Nếu dùng nước ma hoang để nấu sẽ tạo thành canh đậu hoàng, phát hãn giải biểu, liều lượng thường dùng là 10 - 15g.
Chủ trị các triệu chứng say nắng như toàn thân phát sốt, sợ lạnh, thân thể nặng nề.
Có tác dụng trừ thấp, thông huyết, còn có thể thanh nhiệt, ngừng đau, giải độc.
Trị các triệu chứng tê bì cơ bắp nghiêm trọng do chứng thấp gây ra,mạch gân cốt co rút, đau xương ở đầu gối.
Trị khó sinh do ngôi thai ngược, chứng buồn phiền sau khi sinh, thở khó
Thiên kim hoàn: Đậu tương, cam thảo, bối mẫu, tần cửu, gừng khô, quế tâm, hoàng cầm, thạch cao, thạch hộc, gạo tẻ, mỗi loại 0,75g, đương quy 625g, ma tử 4,5g. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, thêm mật ong nặn thành viên tròn, mỗi lần dùng canh táo uống 1 viên. Mỗi ngày 3 lần, nếu như trị chứng buồn phiền sau khi sinh, dùng rượu uống 1 viên.
Hoạt thai nhuận sản, thích hợp dùng trước khi sinh 1 tháng
Cam thảo tán; Cam thảo 6g, đậu đen, hoàng cầm, gừng khô, quế tâm, ma tử nhân, mầm đại mạch, mỗi loại 9g. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, mỗi lần dùng rượu hoặc nước ấm uống 1g, mỗi ngày dùng 3 lần.
Trị nước tiểu có máu ở nữ giới
Lộc giác tán: Lộc giác tiết, đậu đen, quế tâm, mỗi loại 3g. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, mỗi ngày dùng rượu uống 1g, ngày dùng 3 lần.
Trị đậu mùa lở loét trên mặt, có quầng đen
Ngũ hương tán: Đậu đen, hoàng thị, bạch phục linh, ngọc trúc, đỗ nhược, thương lục, mỗi loại 6g, tất đậu 12g, bạch chỉ, đương quy, bạch phụ tử, đông qua nhân, bạch cương tàm, nụ ngọc lan, tế tân, hương phụ tử, thục thủy hoa, đinh tử hương, tuyền phúc hoa, phòng phong, mộc lan, xuyên khung, bạch giao, mai nhục, canh tương, thủy bình, hạnh nhân, thiên môn đông, bạch truật, rễ khoai lang, mỗi loại 9g, tụy lợn (phơi khô) 2 cái. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, dùng rửa mặt có thể làm cho da dẻ mịn màng.