(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Tử bạch bì là vỏ rễ hoặc vỏ cây tử họ núc nác. Vỏ dày, mặt trong màu vàng là loại có chất lượng tốt, chủ yếu được phân bố ở lưu vực sông Trường Giang và khu vực phía Bắc.
Tử bạch bì vị đắng, tính hàn. Công hiệu chủ yếu là trừ tà nhiệt, diệt các loại ký sinh trùng.
Bạch tử bì vị đắng có thể bài tiết, hàn có thể thanh nhiệt kiện âm, lại có thể giải độc tiêu sưng, sát trùng. Vì vậy, chủ trị phát nhiệt do nhiệt thịnh, diệt các loại ký sinh trùng, đắp ngoài có thể trị các vết lở loét da ở lợn. Bản thảo cương mục có ghi: Vị này còn có thể trị bệnh về mắt, tiêu trừ chứng trào ngược dạ dày, lại có thể trị ngứa ngáy, đun lấy nước tắm, đồng thời nghiền nát; có thể trị lở loét do nhiệt ở trẻ, đầu nóng, người khó chịu, nấu lấy nước uống có thể trị ôn bệnh hàn tà.
Lá còn có thể dùng làm thuốc, nghiền nát trị các vết lở loét ngoài da ở lợn, có thể trị chân tay lở loét, cho lợn ăn giúp tăng trưởng nhanh.
Có thể trị lở loét do nhiệt ở trẻ, đầu nóng, người khó chịu và ôn bệnh hàn tà.
Có tác dụng giải độc, tiêu sưng, át trùng, chủ trị phát nhiệt do nhiệt thịnh, diệt các loại ký sinh trùng, đắp ngoài có thể trị lở loét da ở lợn.
Trị viêm thận phù nề
Tử bạch bì, quả thị, ngọc thục thử dùng với lượng thích hợp, đun lấy nước dùng.
Trị thương hàn ứ nhiệt bên trong khiến cơ thể vàng vọt
Ma hoàng, liên kiều, cam thảo, mỗi loại 6g, sinh khương 9g, đại táo 12 cái, hạnh nhân 30 cái, đậu đỏ 18 hạt. Tử bạch bì sống (thái miếng) 24g. Các vị thuốc trộn đều thái nhỏ, đun ma hoàng với 2 lít nước, đun sôi kĩ,thêm các vị khác vào rồi đun tiếp lấy 600ml nước thuốc, lọc bỏ cặn, chia làm 3 thang, uống khi còn ấm.