(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)
Uất lý nhân là hạt quả chín của cây uất lý hoặc quan mộc âu lý, loài thực vật rụng lá theo mùa họ tường vi. Thông thường, thu hoạch quả vào mùa hạ và mùa thu, bỏ vỏ và phần thịt quả, lấy hạt phơi khô. uất lý chủ yếu sinh trưởng ở vùng Hắc Long Giang, Liêu Ninh, Nội Mông, Hà Bắc, Sơn Đông.
Uất lý nhân vị chua, tính bình. Chủ trị trướng bụng, mặt và tứ chi phù nề, có tác dụng thông thủy đạo, lợi tiểu tiện.
Ngày nay người ta cho rằng, uất lý nhân vị đắng, cay, ngọt, tính bình, quy về tỳ, tiểu tràng, đại tràng kinh. Vì vị cay, đắng có thể tán hàn hành khí lợi thủy, vị ngọt có thể nhuận bổ hư, vì vậy có tác dụng hạ khí lợi thủy, nhuận tràng thông tiện. Đúng như Lý Thời Trân nói rằng: Uất lý nhân ngọt đắng mà nhuận, tính chủ giáng, có thể hạ khí lợi thủy. Trong lâm sàng, uất lý nhân dùng nhiều trong trị trướng bụng, mặt và tứ chi phù nề, đại tiện không thông. Ngoài ra, trong uất lý nhân còn chứa chất béo có tác dụng hoạt lợi và chứng đau tim do huyết ứ đọng gây nên.
Ngoài uất lý nhân, rễ của uất lý nhân cũng có thể dùng làm thuốc. Chủ trị viêm chân răng, viêm nướu răng, làm chắc răng. Đun rễ uất lý nhân lấy nước súc miệng, có thể trị đau buốt răng, còn đun lấy nước tắm có thể trị thân nhiệt ở trẻ nhỏ thất thường.
Y học hiện đại đã nghiên cứu và chứng minh, uất lý nhân có chất amygdalin, dầu thực vật, có tác dụng nhuận tràng rõ rệt. Vì uất lý nhân và hồ ma đều có tác dụng nhuận táo, trong lâm sàng có một số người coi 2 vị này là một. Thực ra, trong Bản thảo cầu chân từ sớm đã có ghi chép về sự khác biệt trong dược tính sử dụng của 2 vị này: “Hồ ma công chỉ nhuận táo, hoãn trung hoạt huyết, không như uất lý nhân, vị cay, ngọt và đắng, có thể nhập tỳ hạ khí, hành thủy phá huyết. Phàm chứng phù nề khó tiêu, quan cách không thông, vị cay thì tán, vị đắng thì giáng, khác với hồ ma, mà lại có thể dùng thay nhau tùy người”.
Trị tâm huyết ứ đọng dẫn đến đau tim.
Trị trướng bụng, mặt và tứ chi phù nề, đại tiện không thông.
Trị đờm dãi ở trẻ nhỏ, đại tiểu tiện không thông
Đại hoàng (ngâm rượu rồi sao lên), uất lý nhân (bỏ vỏ, nghiền thành bột), mỗi loại 3g, trộn thêm bột quấy thành dạng cao rồi nặn thành viên. Trẻ nhỏ 2 tuổi dùng 3 viên, còn ở độ tuổi khác căn cứ vào thể trạng mà sử dụng cho phù hợp, uống với nước lọc.
Trị ra mồ hôi màu đỏ
Uất lý nhân (bỏ bì, nghiền nhỏ) 3g, nga lê ép lấy nước rồi uống cùng.
Trị trướng, đại tiện không thông
Uất lý nhân, hoàng cầm, cù mạch, mỗi loại 9g, thông thảo, phác tiêu, mỗi loại 12g, xa tiền tử 10g. Các vị thuốc trộn đều thái nhỏ, đun với 1.600ml lấy 500ml nước thuốc, chia làm 2 thang dùng.
Trị kém ăn, uống nhiều, ôn bệnh hàn nhiệt dẫn tới phù nề
Uất lý nhân thang: Uất lý nhân (chín nghiền nhỏ) 10 quả, gạo tẻ (nghiền nát) 6g. Các vị thuốc đun với 800ml nước lấy 400ml nước thuốc, uống 1 lần, mỗi ngày dùng 3 lần. Người thể chất cường tráng có thể dùng 15 quả uất lý nhân, người yếu dùng 5 - 6 quả. Nếu dùng mà bệnh không khỏi thì tăng lượng dần dần, đến khi khỏi hẳn thì thôi.