(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Hổ chưởng là loại củ thuộc nhóm thực vật họ ráy. Hình cầu dẹt, bề mặt màu vàng trắng đến vàng nâu nhạt, phần giữa của đoạn đầu có nốt rễ lõm, xung quanh có những vết nhỏ chi chít. Người ta thường đáo hái vào mùa thu và mùa đông, bỏ rễ và vỏ bên ngoài, phơi khô rồi cất trữ.
Hổ chưởng vị đắng, tính ôn. Chủ trị đau bụng, đau vùng thượng vị, phát sốt, sợ lạnh, bụng rắn và trướng, gân cốt tê liệt, tứ chi co quắp. Ngoài ra, nó còn có công dụng thông lợi thủy đạo.
Nói về tính vị của hổ chưởng, ngày nay mọi người cho rằng, nó có vị cay, đắng, tính ôn, có độc. Vị cay có thể hành tán, vị đắng lại có thể phá tiết. Cho nên từ xưa nó được cho là lương dược phá tích, tán kết, có thể chữa chứng đau tim, sốt, trị khối u ở bụng, kết khối rắn trong bụng... do tà khí tích tụ không thông gây nên. Hổ chưởng vị đắng có tác dụng táo, vị cay có tác dụng làm ấm, có thể xua đuổi phong hàn tà thấp, cho nên nó còn có công dụng thông kinh hoạt huyết, chữa tê liệt, teo cơ do chấn thương ở xương gây ra, tứ chi co quắp... Hổ chưởng còn có công dụng khứ thấp ôn phế. Phế là gốc rễ của thủy, cho nên trong cuốn Bản kinh có nhắc đến hổ chưởng có thể “lợi thủy đạo”. Ngoài ra, hổ chưởng còn có công hiệu chữa các chứng bệnh, như: Động kinh, méo miệng, tê họng, nhiệt miệng; nếu giã nát dùng ngoài có thể chữa các vết lở loét vết thương do kim loại gây ra hay tụ máu.
Căn cứ vào điển tịch y học các triều đại có ghi chép, công hiệu chính của hổ chưởng là chữa các chứng bệnh kết khí tích tụ. Nhưng người đời sau lại dùng nó để trị táo thấp, khử phong, khử đàm, chống co thắt. Do vậy, đã thu hẹp phạm vi chữa trị, không tận dụng được công hiệu chính của hổ chưởng, thực sự là đáng tiếc.
- Có thể chưa các chứng bệnh như động kinh, tê họng, nhiệt miệng.
- Trị đau tim, sốt, trị u kết khối rắn trong bụng do tà khí tích tụ không thông.
- Có công dụng thông kinh hoạt huyết, có thể chữa các chứng bệnh tê liệt, teo cơ do chấn thương ở xương gây ra, tứ chi co quắp.
Trị câm khẩu, mắt nhắm do trúng phong
Hổ chưởng nghiền nhỏ, cho thêm bạch long não, mỗi thứ một ít trộn đều. Dùng tay chấm bột xát vào răng 20 - 30 lần, miệng sẽ tự mở.
Trị cơ thể co gập không duỗi thẳng được
Hổ chưởng, bán hạ, mỗi loại một ít. Hỗn hợp trên nghiền nhỏ, đổ thêm vào 3g nước gừng, trúc lịch. Đồng thời sấy khô rồi châm cứu vào vị trí Ấn đường.
Trị co giật ở trẻ nhỏ
Lấy 1 củ hổ chưởng nặng 31g, cho vào trong rượu ngâm. Lấy ra, đặt lên viên ngói mới, xung quanh dùng than củi nướng cho nứt ra, để nguội, nghiền nhỏ, cho thêm đan sa 0,3g. Mỗi lần lấy 1,5g trộn với nước kinh giới, uống 1 lần vào sáng sớm khi đói, uống tiếp 1 lần vào buổi trưa.
Trị mất trí, sợ hãi, hoảng hốt đãng trí
Hổ chưởng 500g, đào 1 hố đất, lấy 15000g than củi nướng đỏ, rót 5 lít rượu vào, sau khi để thấm khô, cho thiên nam tinh vào trong một cái chậu đậy lại. Ngày thứ hai lấy ra nghiền nhỏ, cho thêm 31g hổ phách, đan sa 62g, cùng nghiền vụn, lấy nước gừng tươi trộn với bột thuộc nặn thành viên bằng hạt ngô. Mỗi lần lấy 30 - 50 viên, uống với nước nhân sâm, thạch cao và thạch xương bồ, ngày uống 3 lần.
Trị nôn mửa, tiêu chảy không cầm, chân tay lạnh, hôn mê bất tỉnh
Hổ chưởng nghiền nhỏ, mỗi lần lấy 9g, cho thêm 3 quả táo, 2 bát nước nấu rồi chia thành 8 phần, uống khi ấm.
Trị thóp không liền, nghẹt mũi
Thiên nam tinh bỏ vỏ, nghiền nhỏ, cho thêm giấm loãng trộn đều rồi quết lên miếng vải xô, dán lên thóp, chốc chốc lại chườm thóp.
Trị viêm họng
Thiên nam tinh 1 quả, khoét ruột, cho 7 con tằm (nhộng), dùng giấy bọc lại ninh chín, nghiền nhỏ, uống 3g với nước gừng. Những người bệnh nặng khi uống vào thấy nhổ ra nước bọt là khỏi.