(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Nghiêu hoa là nụ hoa khô của cây nghiêu hoa, loài thực vật họ thụy hương (Daphne). Thời kỳ ra hoa là tháng 5 - 6, có màu vàng. Chọn hoa khô, không có lá, không nấm mốc, hoa nhỏ chưa nở là loại tốt. Bảo quản ở nơi khô ráo thoáng gió, tránh ẩm thấp.
Nghiêu hoa vị đắng, tính hàn. Chủ trị thương hàn, sốt rét, có thể hạ thủy tà trong 12 kinh, tán kết, tiêu sưng, loại bỏ các chất tích tụ trong dạ dày, đường ruột, tiêu trừ trạng thái phát sốt, sợ lạnh, những chứng bệnh do tà khí tích tụ, còn có tác dụng thông lợi thủy đạo.
Công hiệu chủ yếu của nghiêu hoa là tiết thủy trục ẩm, diệt trùng, trị lở loét. Bản kinh phùng nguyên từng khái quát về công hiệu của nghiêu hoa như sau: “Nghiêu hoa có thể phá tích tụ, trị đàm ẩm, ho do khí nghịch hành, trị họng sưng tấy”. Bản kinh lại dùng nghiêu hoa trị thương hàn, sốt rét, vì vị đắng, tính hàn có thể công phá tà khí uất kết hoặc ẩn nấp trong cơ thể; lại vì đắng, hàn có thể trục hàn nhiệt trong dạ dày, từ đó có hiệu quả trị liệu rất tốt đối với chứng thủy tà và tà khí hàn nhiệt trong 12 kinh. Vì vậy, trong lâm sàng, nghiêu hoa thường dùng trị liệu khối u ở vùng tim, bụng trướng, vùng bụng mà ngực tích nước, ngoài ra còn có thể tả hạ thông tiện.
Thực tiễn lâm sàng dã chứng minh, nghiêu hoa còn có thể chữa kiết lỵ. Bản thảo diễn nghĩa có mô tả như rất tốt, loại bỏ ký sinh trùng. Theo các văn bản ghi chép, dùng ngọn nha tử sau: “Trương Trọng Cảnh dùng nghiêu hoa trị kiết lỵ trong Thương hàn luận, tức dùng để hành thủy. Thủy đi thì lỵ ngừng”. Có thể thấy, nghiêu hoa là thuốc hạ thủy phá tích tụ rất mạnh, do đó người thể trạng hư nhược không nên dùng.
Có thể trị thủy tà và tà khí hàn nhiệt trong 12 kinh.
Trị liệu khối u ở vùng tim, bụng trướng, vùng bụng mà ngực tích nước.
Có tác dụng tả hạ thông tiện.
Trị phù nề, đầy bụng, giải rượu
Can táo thang: Nguyên hoa, nghiêu hoa, mỗi thứ 1,5g, cam thảo, đại kích, cam toại, đại hoàng, hoàng cầm, mỗi thứ 3g, đại táo 10 quả. Tất cả các vị thuốc trên xắt nhỏ, đun nhỏ lửa với 1 lít nước, lấy 320ml nước thuốc, chia làm 4 thang, uống khi bụng đói, đại tiện thông thì được.
Trị ho lâu ngày, ho ra máu mủ, tức ngực khó thở
Khoản đông hoàn: Nghiêu hoa, nhân sâm, tế tân, tử uyển, cam thảo, cát cánh, phòng phong, nguyên hoa, phục linh, bồ kết, mỗi thứ 2,25g, khoản đông hoa, can khương, thục tiêu, ngô thù du, quế tâm, xương bồ, mỗi loại 2,25g. Các vị thuốc trên nghiền nhỏ, dùng mật chế thành viên bằng hạt ngô. Mỗi ngày dùng 3 viên với rượu, mỗi ngày 3 lần.
Trị bắp chân sưng tấy, nước tiểu vàng, tức ngực khó chịu, đau cơ bắp
Nghiêu hoa (sao), phòng phong, đỗ trọng (phơi khô), mỗi loại 2,25g, thạch đảm (nghiền), ngô thù du, thiên hùng (ngâm, bỏ vỏ), nguyên hoa (phơi nắng), bá tử nhân, mỗi loại 0,75g, xương bồ, đình lịch (sao), mỗi loại 3g, thỏ ty tử 8,1g. Các vị thuốc trên trộn lẫn rồi nghiền nhỏ, dùng mật điều chế thành dạng viên, mỗi lần dùng 3 viên, ngày 2 lần.