Các loại nhân sâm

836 18/02/2019
Skhoe24h.com - Có ba loại sâm chính hiện lưu hành trên thị trường là sâm châu Á, sâm châu Mỹ và sâm Siberian. Nhân sâm có thành phần hóa học như sau: hỗn hợp saponin, tinh dầu panaxen, phytosterol, tinh bột, đường, acid amin, acid phosphoric, vitamin B1, vitamin B2 và một vài khoáng chất....

Các loại nhân sâm

Sâm châu Á

Thường được gọi là nhân sâm, tên khoa học là Panax pseudoginseng. C. A. Meyer là nhà thực vật học đầu tiên của phương Tây bắt đầu nghiên cứu loại sâm này vào năm 1842.

Đây là loại sâm nổi tiếng của Trung Hoa ở miền Mãn Châu và của Hàn quốc, đã được xem là đứng đầu các vị thuốc bổ (sâm, nhung, quế, phụ). Theo Đông y, sâm để tu bổ ngũ tạng, làm dịu cảm xúc, an thần, trừ độc trong cơ thể, làm thị giác tinh tường, làm tăng trí nhớ và tinh thần minh mẫn, và nếu dùng liên tục thì sẽ sống lâu. Y học châu Á đã dùng nhân sâm từ nhiều ngàn năm.

Người phương Tây biết đến nhân sâm qua sự nhận xét và giới thiệu của một tu sĩ dòng Tên Petre Jartoux vào khoảng năm 1716. Trong khi truyền giáo ở miền Bắc Trung Hoa, vị tu sĩ này thấy dân chúng dùng một loại rễ cây mọc hoang để trị nhiều bệnh rất công hiệu, ông ta bèn viết một bài để giới thiệu với các thầy thuốc ở châu Âu. Từ đó, các nhà nghiên cứu ở Âu Châu, Nhật Bản, Nga, Hoa Kỳ đã để tâm nghiên cứu về loại dược thảo có phần rễ hình người này.

Nhân sâm có thành phần hóa học như sau: hỗn hợp saponin, tinh dầu panaxen, phytosterol, tinh bột, đường, acid amin, acid phosphoric, vitamin B1, vitamin B2 và một vài khoáng chất.

Hiện nay có khoảng 22 chất saponin được phân loại, gọi là ginsenosides hay panaxosides, là những dược liệu chính của sâm Hóa chất này có công thức hóa học tương tự như loại hormon mà cơ thể con người dùng để đối phó với sự căng thẳng của đời sống.

W H Lewis cho hay là chất chiết của nhân sâm có tác dụng làm chậm sự phát triển của một vài tế bào u bướu và có vài tác dụng làm giảm đường trong máu.

Nghiên cứu của V W Petkov và D. Staneva-Stoicheva ở Bulgarie cho biết là nhân sâm có tác dụng kích thích thần kinh trung ương, giảm huyết áp, giảm đường trong máu, kích thích hô hấp, hỗ trợ tế bào thần kinh đáp ứng với sự căng thẳng, tăng hồng huyết cầu và huyết tố, giảm cholesterol.

H. W Yeung cho biết là nhân sâm có công dụng làm giảm thời gian phản ứng với các kích thích thính thị giác, tăng sự lanh lợi, tập trung trí tuệ, tăng phối hợp giữa thị giác và cử động. Họ cũng cho biết là nhân sâm có công dụng như chất chống oxy hoá (antioxidant) nên có thể giúp chống lại một vài bệnh gan, mắt, vữa xơ động mạch.

L. I. Brekham, một chuyên gia người Nga về sâm, cho binh sĩ uống sâm chạy thi với nhóm khác uống giả dược (placebo), thì nhóm dùng sâm chạy nhanh hơn và kéo dài được thời gian chạy lâu hơn.

S. Shibata, O. Tanaka và H. Saito cũng cho rằng sâm làm tăng sự bền bỉ, chịu đựng của cơ thể với căng thẳng các loại, có tác dụng chống kinh phong, hạ nhiệt, tăng chức năng dạ dày, chống viêm

Tại Đức, chính quyền cho phép nhân sâm bán trên thị trường được mang nhãn hiệu như một loại thuốc bổ, tăng cường sinh lực khi bị suy nhược, mệt mỏi, khi kém tập trung, và trong thời kỳ hồi phục sau khi khỏi bệnh.

Quyển Dược thư của Liên Xô cũ xuất bản năm 1961 công nhận nhân sâm là vị thuốc chính thức trong nền y học của Liên bang này.

Cho tới nay, đã có đến hàng trăm nghiên cứu khoa học về công dụng của nhân sâm Sự nghiên cứu này vẫn cần được tiến hành thêm nữa một cách có hệ thống để có thể giúp hiểu rõ hơn công dụng chữa bệnh của loại thảo dược này.

Sâm châu Mỹ

Sâm châu Mỹ, tên khoa học là Panax quinquefolius, được tu sĩ Joseph Francois Lafitau khám phá ra cách đây gần ba trăm năm, ở vùng Montreal, Canada. Vị tu sĩ này đã khai thác, xuất cảng rất nhiều sâm sang Trung Hoa từ thế kỷ thứ 18.

Sâm mọc hoang ở miền đông bắc châu Mỹ, từ Quebec, Ontario xuống Wisconsin, Minnesota, Florida, Alabama, Oklahoma. Không như sâm châu Á đã bị khai thác gần hết, sâm châu Mỹ hiện vẫn còn nhiều và được các quốc gia Hoa Kỳ, Canada xếp vào loại cây quý hiếm được bảo vệ.

Sâm này đã được Abraham Whisman ở Virginia bắt đầu trồng từ năm 1870. Hiện nay Canada đứng đầu trong việc trồng và xuất cảng sâm này. Hoa Kỳ cũng xuất cảng tới 30% tổng số sâm châu Mỹ trên thế giới, trong khi Trung Hoa và Hàn quốc vẫn dẫn đầu trong việc xuất cảng sâm các loại. Năm 1995 có tới hơn 700 tấn sâm trồng và 150 tấn sâm mọc hoang được xuất cảng từ Hoa Kỳ.

Sâm châu Mỹ rất được dân chúng Trung Hoa ưa thích vì tính chất bổ âm của nó, và ngọt dịu hơn sâm châu Á. Sâm châu Á có nhiều dương tính, nóng, làm hưng phấn cơ thể, làm tăng cường sức lực. Ngược lại, sâm châu Mỹ có nhiều âm tính, mát, làm giảm căng thẳng, làm mạnh nội tạng.

Theo quan niệm châu Á Đông thì sự hài hòa giữa âm dương trong vũ trụ và trong con người đưa tới sự

ổn định môi trường và sự khỏe mạnh của cơ thể.

Sâm châu Mỹ được thổ dân ở đây dùng để chữa chảy máu cam, khó thở, tăng cường khả năng sinh sản của nữ giới, làm tăng trí tuệ, sức khỏe thể xác, chống mỏi mệt.

Sâm này đã được ghi vào danh sách United States Pharmacopeial (USP - danh sách các dược phẩm tinh khiết) từ năm 1842 tới 1882.

Tuy nhiên, sâm vẫn chưa hội nhập vào kỹ thuật trị liệu ở Hoa Kỳ, mặc dù rất nhiều người đang dùng dược thảo này. Lý do là chưa có nhiều nghiên cứu khoa học về sâm châu Mỹ như nhân sâm, và có nhiều ý kiến khác nhau về sâm Thực ra công dụng của sâm thay đổi đôi chút với loại sâm, thời gian hái sâm, bộ phận cây sâm, cách pha chế, cách dùng và phân lượng dùng.

E. J Staba và S. E Chen, trong một báo cáo nhan đề “An Overview of Ginseng Chemistry, Pharmacology and Anti-tumor effects” (Tổng quan về hoá tính, dược tính và tác dụng chống ung bướu của nhân sâm) đã ghi nhận là với một lượng nhỏ, sâm kích thích hệ thần kinh, nhưng với liều lượng cao lại có tác dụng làm dịu, chống mệt mỏi, giúp cơ thể thích nghi được với các căng thẳng, chống nhăn da và làm tế bào da mau sinh sản, chống lại độc tính của chloroform, amphetamine, làm tăng trọng lượng của túi tinh dịch và tuyến tiền liệt, tăng tinh trùng, làm tăng cân với lượng nhỏ và làm giảm cân khi dùng với lượng lớn.

Việc nghiên cứu công dụng của sâm châu Mỹ còn khá mới mẻ và chưa được chấp nhận vào phương pháp trị bệnh thực nghiệm. Theo một vài tác giả, cần có những quan tâm nhiều hơn nữa, nhất là kết quả việc dùng sâm ở con người với những ưu điểm cũng như các tác dụng không tốt của sâm

Sâm châu Mỹ cũng có thành phần hóa chất tương tự như nhân sâm châu Á, đặc biệt là hỗn hợp ginsenosides.

Sâm Siberian

Tên khoa học là Eletherococcus senticosus, sâm này có nhiều ở đông bắc châu Á như miền đông nam nước Nga, miền đông bắc Trung Hoa, gần biên giới với Nhật và Hàn quốc.

Tác giả Stephen Fulder cho rằng đây không phải thuộc họ sâm Panax gingsen, nhưng được xem như sâm vì có tác dụng tương tự, đã được người Nga dùng từ lâu để thay thế cho nhân sâm quá đắt và khó kiếm. Hoạt chất chính của loại sâm này là chất Eleutherosides với công dụng giống như Ginsenosides của sâm châu Á và sâm châu Mỹ.

Các nhà khoa học Nga xếp loại sâm này vào nhóm thực vật làm tăng sức đề kháng, giúp cơ thể chịu đựng mệt mỏi của bệnh hoạn, tuổi già, làm việc cực nhọc và vượt qua được các bệnh thông thường như cảm lạnh.

Theo J. A. Duke và E. S. Ayensu trong “Medicinal Plant of China” (Cây thuốc Trung Hoa) thì loại sâm này được dân chúng ở vùng đông bắc Trung Hoa dùng để chữa các bệnh phong khớp xương, viêm cuống phổi, bệnh tim, đồng thời nếu dùng liên tục, để tăng cường sức khoẻ, làm ăn ngon miệng, giúp trí nhớ tốt, kéo dài tuổi thọ.

Năm 1961, một hội nghị về sâm đã diễn ra ở Leningrad, Liên Xô cũ. Năm sau đó, sâm Siberian được chính quyền Liên Xô cũ chấp thuận cho dân chúng dùng như loại thuốc bồi bổ sức khoẻ, thích nghi với căng thẳng đời sống và chữa các bệnh như cao huyết áp, tiểu đường, viêm phế quản kinh niên, bệnh thần kinh tâm lý, vữa xơ động mạch máu. Tuy nhiên, những công dụng trên chỉ có được với liều dùng thích hợp, nên cần phải được sử dụng dưới sự hướng dẫn và theo dõi của thầy thuốc.

Giới chức y tế ở Đức cũng xem sâm Siberian có công dụng như nhân sâm, giúp cơ thể khỏe mạnh, mau hồi phục sau khi khỏi bệnh, cũng như gia tăng sự bền bỉ trong lao động trí óc, chân tay.

Sự khác biệt giữa ba loại sâm kể trên được một số chuyên gia phân biệt như sau:

- Sâm châu Á có tính cách kích thích, làm nóng cơ thể, tăng cường sức khỏe, thường được dùng với người lớn tuổi, người suy yếu tổng quát, người cần dùng nhiều sức lao động bền bỉ.

- Sâm châu Mỹ có hàn tính, êm dịu, thích hợp cho người hay năng động, nhưng cũng giúp cơ thể tăng cường sự dẻo dai, sức chịu đựng.

- Sâm Siberian dung hòa giữa hai loại trên, không ôn quá mà cũng không hàn quá, và có cùng đặc tính tăng cường sức khỏe.

Một số loại sâm khác

Ngoài ra còn các loại sâm khác như sâm Brazilian, sâm Angelica sinensis, sâm Acanthopanax sessiliflorus...

Giáo sư Đỗ Tất Lợi, trong tác phẩm “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” còn kể thêm nhân sâm Việt Nam, Đảng sâm có ở quận Thượng Đảng (Trung Quốc) và Cao Bằng, Lạng Sơn (Việt Nam); sâm Bố Chính ở Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình (Việt Nam), Thổ Cao Ly sâm, Sa sâm..


Tags: nhân sâm,

Bạn cần tư vấn






Bài liên quan