(Vị thuốc hạ phẩm trong Thần nông bản thảo kinh)

Trạch tất là toàn bộ phần thân của cây trạch tất, loài thực vật thân cỏ, sống 2 năm thuộc họ đại kích. Vì lá của nó tròn, màu vàng xanh, giống mắt mèo, do đó cũng được gọi mao nhi nhãn thanh thảo. Người ta thường thu hái vào tháng 4 - 5 khi nở hoa, phơi khô dùng làm thuốc.
Trạch tất vị đắng, tính hàn. Chủ trị các chứng da phát nhiệt, trướng bụng, phù thũng, tứ chi và mặt, mắt phù nề, thận hư ở nam giới.
Trạch tất quy về đại tràng, tiểu tràng và phế kinh. Vị đắng có thể trừ nhiệt giáng tiết, có công hiệu lợi thủy, thanh nhiệt. Có thể trị chứng bụng trướng thủy khí, mắt và tứ chi phù thũng được nói đến trong Bản kinh; còn để cập đến dương khí uất kết do thủy thấp gây nên, tức là chứng “trượng phu âm khí không đủ”. Lý Thời Trân cho rằng: Trạch tất lợi thủy, có công hiệu giống như đại kích, vì vậy mọi người nhìn thấy thân của nó có dịch màu trắng, nên đều cho rằng, nó là đại kích. Tuy nhiên, rễ và mầm đại kích đều có độc, có thể tiết thủy thũng, còn rễ của trạch tất thì cứng chứng thận hư và liệt dương.
Trạch tất còn có thể trị các chứng tứ chi không có lực, thở gấp, trướng bụng. Vị đắng, tính hàn của nó còn có thể thanh nhiệt, tiêu trừ những chứng nhiệt nóng trên da, trị ho không ngừng. Ngoài ra, trạch tất còn có thể trị bệnh sốt rét, tiêu đờm, trừ nhiệt, thông lợi tiểu tràng, đại tràng, còn có tác dụng làm cho thân thể nhẹ nhàng, sáng mắt.
Căn cứ theo những nghiên cứu của y học hiện đại cho rằng, trạch tất có những thành phần như ruercetin (C15H10O7), đường glucose..., có tác dụng giảm nhiệt, dãn mở mạch máu. Niêm dịch dạng sữa của nó có chứa chất nhựa có tính kích thích, một khi tiếp xúc sẽ làm cho da tấy đỏ, thậm chí bị loét, cho nên có thể dùng để giúp ăn mòn các khối u.
Có tác dụng thanh nhiệt, tiêu trừ chứng nhiệt nóng trên da, trị ho.
Có tác dụng giảm nhiệt, dãn nở mạch máu,niêm dịch dạng sữa có thể ăn mòn khối u.
Trị dương khí uất kết do thủy thấp gây nên, tức là chứng “trượng phu âm khí không đủ”.
Trị tứ chi không có lực, thở gấp. trướng bụng.
Trị ho, mạch đập yếu
Trạch tất (cắt nhỏ, dùng 10 lít nước đun lên, lấy 3 lít nước thuốc, bỏ bã, đợi thuốc lắng trong) 144g, bán hạ 7,5g, tử uyển, gừng tươi, bạch tiền, mỗi loại 15g cam thảo, hoàng cầm, quế tâm, nhân sâm, mỗi loại 9g. Các vị thuốc trên cắt nhỏ cho vào trong nước trạch tất rồi đun lên lấy 1 lít nước thuốc, mỗi lần dùng 100ml nước, ban ngày 3 lần, ban đêm 1 lần.
Trị thũng thủy do cổ độc
Lấy trạch tất còn tươi, phơi khô, nghiền nhỏ, nặn thành viên to nhỏ. Mỗi lần dùng 2 viên, dùng nước luộc thịt mỡ, mỗi ngày 2 lần, cảm thấy trong bụng ấm, tiểu tiện thông là được.
Trị chân sưng đỏ, đau khi bước chân
Trạch tất, kim ngân hoa phân ra. Mỗi lần lấy 31g, dùng nước đun còn 720ml nước, lọc sạch.
Trị đau răng
Lấy trạch tất giã nát, đun lấy nước, ngậm trong miệng rồi nhổ ra.
Trị những vết thương mọc nấm có trùng
Lấy trạch tất phơi khô, nghiền nhỏ, thêm dầu thơm vào, bôi lên.
Trị tứ chi teo nhỏ, bụng đau
Lá trạch tất 30g, tang bạch bì, bạch bì, mỗi loại 36g, đậu tương 90g, phòng kỷ, xạ can, bạch truật, mỗi loại 12g. Các vị thuốc trên đem cắt lát, dùng 3.000ml nước để nấu, lấy 1.200ml nước thuốc, bỏ bã, cho thêm 600ml rượu ngon rồi đun tiếp lấy 1000ml nước. Mỗi lần uống 200ml nước, ban ngày dùng 2 lần, ban đêm dùng 1 lần, thuốc còn lại để những ngày sau tiếp tục dùng.