
Dầu olive đã được người dân các nước Ý và Hy Lạp dùng từ nhiều thế kỷ trước với số lượng rất lớn, và họ có một sức khỏe tốt, tuổi thọ cao. Họ thường ăn dầu này chung với đậu, hải sản tươi, trái cây, rau và uống rượu vang.
Một muỗng dầu olive có 14g chất béo, cung cấp 126 calori. Thành phần chất béo trong dầu olive là: 70% chất béo dạng đơn chưa bão hoà, 11% chất béo dạng đa chưa bão hoà, và 14% chất béo bão hoà.
Dầu olive là loại dầu duy nhất được ép ra từ trái olive chín trên cây rồi vô chai ngay chứ không qua các thủ tục tinh chế. Tây Ban Nha là quốc gia sản xuất dầu này nhiều nhất trên thế giới.
Dầu olive có thể dùng để xào nấu hoặc trộn xà lách. Hương vị, màu sắc, cấu trúc của dầu tốt xấu tùy theo địa phương và cách trồng olive.
Có nhiều loại dầu olive, tùy theo mức độ chua nhiều hay ít.
Loại ngon nhất và đắt tiền nhất là nước chiết đầu tiên của trái olive, được ép bằng máy, có dưới 1% acid linoleic (dầu extra-virgin). Màu của dầu này có thể xanh đậm hoặc trong nhạt như rượu sâm banh.
Tiếp theo là dầu loại dầu có từ 1% - 3% acid linoleic (dầu virgin).
Loại kém nhất là dầu olive lấy từ bã của các loại dầu trên (dầu Fino).
Bảo quản trong chỗ mát, không có ánh sáng, dầu olive có thể để dành được tới nửa năm Nếu để trong tủ lạnh thì một năm sau vẫn còn tốt.
Ngoài công dụng dinh dưỡng, dầu còn được dùng trong y học.
Hippocrates đã từng chữa bệnh loét dạ dày, dịch tả, đau bắp thịt bằng dầu olive. Nhiều người tin là dầu cũng giúp ổn định tâm thần của tuổi già, giảm bớt phong thấp khớp, giảm LDL, tăng HDL, làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch, làm máu loãng và ngăn ngừa ung thư vú.

Dầu này được chiết từ hạt đậu nành, có màu vàng nhạt. Tại Hoa Kỳ, dầu đậu nành đứng hàng đầu trong số dầu thực vật được tiêu thụ. Hằng năm, trên thế giới có tới 15 triệu tấn dầu đậu nành được sản xuất.
Dầu đậu nành có 58% chất béo dạng đa chưa bão hòa, 23% chất béo dạng đơn chưa bão hòa và 15% chất béo bão hòa, không có cholesterol.
Thành phần các acid béo là: 54% acid linoleic, 24% acid oleic, 12% acid palmitic, 8% acid linolenic và 2% acid stearic.
Dầu này được dùng rất nhiều để làm margarin, trộn xà lách hoặc nấu nướng. Các món ăn Trung Hoa, Việt Nam dùng rất nhiều dầu này vì tương đối rẻ tiền mà lại tốt cho sức khoẻ.
Ngoài ra dầu đậu nành cũng còn được dùng trong dược phẩm, sơn, mỹ phẩm, xà bông, mực in...

Đây là loại dầu không màu, ép ra từ hạt của cây safflower. Dầu có nhiều chất béo dạng đa chưa bão hòa (72%), một phần chất béo dạng đơn chưa bão hoà (13%) và tương đối ít chất béo bão hòa (10%) so với một số loại dầu khác.
Dầu được dùng nhiều để chế dầu giấm vì nó không đông đặc khi lạnh, làm margarin, mayonnaise hoặc pha vào sơn để mau khô.
Đun sôi, dầu có độ bốc khói cao nên dùng để chiên rán rất tiện lợi.
Về phương diện dinh dưỡng, dầu không tốt bằng các dầu khác vì ít vitamin E hơn. Thành phần các acid béo là: 77% acid linoleic, 13% acid oleic, và không có acid linoleic.

Dầu cọ được dùng rất nhiều trên thế giới và rất phổ thông ở miền tây châu Phi, Brazin... Mỗi năm có khoảng 11 triệu tấn dầu cọ được sản xuất để làm thực phẩm và làm xà phòng, mỹ phẩm..
Dầu được ép từ cùi trong trái của một loại cọ trồng ở châu Phi. Dầu có màu da cam đậm với một hương vị rất đặc biệt. Thành phần chất béo của loại dầu này là: 8% chất béo dạng đa chưa bão hoà, 42% chất béo dạng đơn chưa bão hoà và 45% chất béo bão hoà.

Dầu này khá đặc, có màu vàng, được ép ra từ hạt bí đã được nướng chín. Dầu có mùi rất mạnh, nên thường được pha với các dầu khác để nấu nướng hoặc trộn xà lách.

Canola là tên gọi mà người Canada dùng để chỉ loại dầu chế ra từ hạt của cây cải dầu (rape).
Dầu này được dùng rất phổ biến vì chỉ chứa có 7% chất béo bão hòa. Các chất béo còn lại có 32% là chất béo dạng đa chưa bão hoà và 57% là chất béo dạng đơn chưa bão hoà. Đặc biệt hơn nữa là dầu có chứa chất béo omega-3, một chất béo có nhiều trong cá và rất tốt cho sức khoẻ vì làm giảm cholesterol và triglycerid trong máu.
Dầu canola rất tiện lợi cho việc nấu nướng cũng như trộn xà lách vì không có mùi.

Hazel, tiếng Việt gọi là cây phỉ, một thứ cây bụi hoặc cây mộc nhỏ, có quả ăn được.
Dầu này có nhiều ở bên Pháp, khá đắt, dùng để trộn xà lách hoặc nấu nướng.
Dầu có mùi rất mạnh nên thường được pha lẫn với các dầu khác cho mùi nhẹ hơn.
Để chỗ mát, dầu có thể dùng được tới vài ba tháng. Tốt hơn là cất trong tủ lạnh cho khỏi lên mùi dầu khét.

Dầu ép từ hạt cây bông, rất đặc, thường được pha lẫn với nhiều dầu khác. Thành phần chất béo có 48% là chất béo dạng đa chưa bão hoà, 21% là chất béo dạng đơn chưa bão hoà và 26% là chất béo bão hoà.
Dầu hạt bông được dùng nhiều nhất vào việc làm margarin, dầu giấm, chiên thực phẩm. Ngoài ra cũng dùng làm mỹ phẩm, dược phẩm, làm bóng da, giấy, vải...
Dầu được xếp vào loại có nhiều chất béo dạng đa bất bão hòa (48%) và được dùng rất nhiều ở Hoa Kỳ, sau các loại dầu đậu nành, dầu canola và dầu hướng dương.

Hướng dương là loại cây trồng ở vườn, thân cao, hoa có ánh màu vàng bao quanh một trung tâm sẫm màu nom tựa như hình mặt trời. Cuống hoa thường xoay theo hướng của mặt trời trong ngày.
Hạt hướng dương có vỏ cứng, với các vạch dài đen trắng xen lẫn nhau.
Hạt được bán khô tự nhiên hoặc rang với chút muối. Nhân dùng để ăn chơi, trộn xà lách hoặc nấu chung với nhiều thực phẩm Hạt cũng được ép để lấy dầu. Dầu này có nhiều chất béo dạng đa chưa bão hòa (63%), một phần chất béo dạng đơn chưa bão hoà (20%) và tương đối ít chất béo bão hòa (12%).
Cũng như các dầu thực vật khác, dầu hướng dương dùng để trộn xà lách, nấu nướng, làm margarin. Đây là loại dầu ăn đứng hàng thứ ba về số lượng tiêu thụ, sau dầu đậu nành và dầu canola.
Thành phần các acid béo của loại dầu này là: 66%; acid linoleic, 21% acid oleic, 8% acid palmitic và 5% acid stearic.

Các vị nội trợ ta hẳn đã quá quen thuộc với dầu mè, loại dầu thường dùng có mùi thơm rất mạnh, màu rất đậm Tuy nhiên, dầu mè được chế biến ở Hoa Kỳ có màu nhạt với mùi nhẹ hơn.
Dầu được dùng thay cho dầu olive để trộn xà-lách, nấu nướng, làm margarin hoặc dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm, dược phẩm. Dầu mè rất phổ thông ở Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á.
Dầu mè có tỷ lệ chất béo chưa bao hòa rất cao, đứng hàng thứ tư sau dầu hạt safflower, dầu đậu nành và dầu bắp. Thành phần các acid béo là: 44% acid linoleic, 40% acid oleic, 9% acid palmitic, 5% acid stearic và 2% acid linolenic. Dầu mè cũng có một loại chất kháng oxy hoá (antioxidant) có tên là sesamol.
Dầu chỉ bốc khói ở nhiệt độ cao nên tiện lợi trong việc chiên rán.

Dầu bắp đã được dùng rất nhiều trong mấy thập niên vừa qua vì công dụng làm hạ cholesterol trong máu. Dầu bắp có nhiều chất béo dạng đa chưa bão hòa (58%), một phần chất béo dạng đơn chưa bão hoà (25%) và ít chất béo bão hoà (13%). Thành phần các acid béo là: 54% acid linoleic, 29% acid oleic, 13% acid palmitic và 4% acid stearic.
Gần đây, một số người thích dùng dầu olive hơn dầu bắp vì cho rằng dầu bắp làm giảm lượng HDL (cholesterol có lợi) trong máu.
Dầu bắp được dùng trộn xà-lách, nấu nướng, làm margarin, hoặc dùng trong kỹ nghệ làm sơn, xà phòng...

Dầu được ép từ cùi dừa rồi được tinh chế để loại bỏ mùi hôi và lấy bớt acid béo. Dầu có lượng chất béo bão hòa rất cao (85%) và một ít chất béo dạng đơn chưa bào hoà (6,6%), rất ít chất béo dạng đa chưa bão hoà (1,7%). Dầu dừa được dùng nhiều để làm bánh, kẹo hơn là trực tiếp nấu nướng.

Dầu phộng được dùng để chiên thực phẩm, trộn xà-lách, làm margarin. Ngoài ra dầu cũng được dùng để đốt đèn, làm xà phòng, thuốc gội đầu, sơn... Thành phần chất béo của dầu phộng có 48% là chất béo dạng đơn chưa bão hoà, 29% là chất béo dạng đa chưa bão hoà, và 19% là chất béo bão hoà.