Bạn có thể xem: 26 Thực phẩm tốt nhất cho người bị bệnh dạ dày (Phần 1)
Bạn có thể xem: 26 Thực phẩm tốt nhất cho người bị bệnh dạ dày (Phần 2)

Cải bắp có thân to và cứng, mang vết sẹo của những lá đã rụng. Lá xếp ốp vào nhau thành đầu, phiến lá màu xanh lục nhạt hay mốc mốc và có một lớp sáp mỏng, có những lá rộng với một thuỳ ở ngọn lớn, lượn sóng, vào năm thứ hai cây ra hoa. Chùm hoa ở ngọn mang hoa màu vàng có 4 lá dài, 4 cánh hoa, cao 1,5 - 2,5 cm, 6 nhị.
Cải bắp là loài ôn đới gốc ở Địa Trung Hải được nhập vào trồng ở nước ta làm rau ăn. Cải bắp bánh dày, tròn và nhọn, vốn là cây ưa nắng, không chịu bóng râm, nhất là trong giai đoạn phát triển ban đầu. Nhiệt độ trên 25 độ không thích hợp, nhiệt độ cao liên tục sẽ làm rễ yếu, cây giống ra hoa dị dạng, cải bắp có 4 thời kỳ sinh trưởng: cây non 5 - 6 lá trong 22 - 25 ngày, hồi xanh tăng trưởng 2 ngày, trải lá cuốn bắp 20 - 25 ngày, cần nhiều nước và phân, thời kỳ cuốn đến khi thu hoạch 10 - 15 ngày.
Theo Đông y, cải bắp vị ngọt tính hàn, không độc, có tác dụng hoạt huyết, chỉ huyết, lợi tiểu, thanh phấ, thanh nhiệt, trừ đàm thấp, giải độc, sinh tân, chỉ khát, mát dạ dày, bổ tỳ vị. Người táo bón, tiểu ít, không ăn bắp cải sống hoặc dưa bắp cải muối, mà phải nấu chín.
Lượng vitamin C trong bắp cải chỉ thua cà chua, nhưng nhiều gấp 4,5 lần so với cà rốt. 3,6 lần so với khoai tây, hành tây. Trong bắp cải, vitamin c được vitamin p bảo vệ khỏi bị oxy hoá để cho giá trị sinh học cao hơn thuốc vitamin c.
Ở Việt Nam, cải bắp được trồng ở miền Bắc vào mùa đông làm rau ăn lá quan trọng trong vụ này cũng được trồng ở cao nguyên miền Trung như ở Đà Lạt, còn ở Nam Bộ, trong những năm sau này, do cải tiến về giống nên cải bắp được trồng khá nhiều và bà con quen gọi là cải nồi.
Thành phần hoá học trong 100g bắp cải chứa:
- Lipid 0.8g
- Chất xơ 1,7g
- Khoáng toàn phần 2.4g
Về mặt dinh dưỡng trong 100g bắp cải:
- Cung cấp cho cơ thê 50 calo
- Nhiều muối khoáng nhất là canxi, photpho, kali, sắt.
Cải bắp được dùng làm thuốc chưa bệnh từ thời cổ đại ở Châu Âu. Sau đây là một số tác dụng chữa bệnh từ bắp cải.
- Đối với bệnh loét dạ dày tá tràng: Nước ép bắp cải giúp làm chóng lành vết loét, thành sẹo, nhất là loét dạ dày, ruột, loét miệng nồi.
Cách dùng: Mỗi sáng sớm và trước khi đí ngủ uống 1/2 cốc nước bắp cải ép. Từ thập niên 40 thế kr XX người ta đã công nhận tác dụng chữa loét dạ dày của bắp cải và sau đó được kiểm chứng trên thực nghiệm. Kết quả cho thấy phần lớn người bị loét dạ dày hành tá tràng đã uống 1/2 lít nước bắp cải mỗi ngày trong 3 tuần.
Qua nội soi, các chuyên gia đã chứng minh được sự hình thành một lớp màng nhầy có 2 chức năng vừa che chở. vừa tái tạo niêm mạc dạ dày dưới tác dụng của bắp cải. Ngoài ra, họ đã xác định được một hoạt chất có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày. Hoạt chất này chỉ có trong bắp cải tươi và hàm lượng cao khi còn tươi xanh và thu hái vào mùa xuân hay mùa hè, hầu như mất tác dụng vào mùa đông...

Nhiều nghiên cứu khác nhau của những nhà khoa học ở Anh và Ấn Độ đã đưa ra kết luận giống nhau về chuối xanh đối với các bệnh nhân bị loét dạ dày. tá tràng. Người ta cho bệnh nhân sử dụng những loại chuối khác nhau ở dạng chuối khô, chuối bột, chuối xanh, chuối chín, sau đó đối chứng với những người không dùng chuối. Kết quả cho thấy, chuối xanh được phơi khô ở nhiệt độ thấp có khả năng kích thích sự tăng trưởng của lớp màng nhầy, làm nó dày lên, bảo vệ thành dạ dày khỏi bị loét và giúp hàn nhanh chóng chỗ loét đã hình thành trước đó. Thí nghiệm được xác định những loại chuối phơi khô ở nhiệt độ cao hoặc chuối chín không có tính năng này. Kết quả trên cũng phù hợp với kinh nghiệm dân gian dùng chuối xanh phơi khô tán bột để trị bệnh loét dạ dày. Đáng lưu ý là khoa học đã xác định hiệu quả của chuối xanh phơi khô ở nhiệt độ thấp từ kỹ thuật phơi âm (phơi trong bóng râm) của y học cổ truyền. Cách phơi khô trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời hoặc sấy ở nhiệt độ cao sẽ làm chuối mất đi tác dụng chữa bệnh này.
Chuôi hột (già) xắn mỏng, phơi chỗ mát cho khô, tán bột. Uống (trước bữa ăn) mỗi lần 2 muuỗng cà phê với nước nóng, ngày uống 3 lần. Dùng liên tục 1 - 2 tuần.

Trong cuốn “Nam dược thần hiệu". Tuệ Tĩnh đã viết về bưởi vỏ quả bưởi gọi là cam thao, vị đắng cay, tính không độc, thông lợi, trừ đờm táo thấp, hoà huyết, giảm đau, trị tràng phong, tiêu phù thũng. Bỏ cùi trắng, lấy lớp vỏ vàng sau dùng. Ngày nay, ta dùng vỏ quả, xem như có vị cay, đắng, tính ấm, tác dụng trừ phong, hoá đàm, tiêu bảng (lách to), tán khí thũng (phù thũng thuộc khí), ở Trung Quốc, người ta cho là làm để tiêu, giúp sự tiêu hoá, làm long đờm, chống ho. Lá có vị đắng, the, mùi thơm, tính ẩm, có tác dụng tán hàn, tán khí, tiêu sưng, tiêu viêm. Tuệ Tĩnh còn cho biết quả bưởi vị chua, tính lạnh, hay làm cho thư thái, trị được chứng có thai nôn nghén, biếng ăn, đau bụng, hay người bị tích trệ ăn không tiêu. Nay ta dùng dịch có tính chất khai vị và bổ, lợi tiêu hoá, khử lọc, dẫn lưu mật và thận, chống xuất huyết, làm mát.
Công dụng:
Vỏ quả dùng trị đờm kết đọng ở cổ họng và chống phổi, đau bụng do lách to; còn dùng trị đau dạ dày, đầy bụng, ăn uống không tiêu, ho nhiều, hen, đau thoái vị. Lá dùng chữa sốt, ho, nhức đầu. hắt hơi. kém ăn; còn dùng chữa viêm vú, viêm amiđan. Ở Ấn Độ, người ta dùng chữa bệnh động kinh, múa giật và ho có co giật. Dịch quả dùng trong trường hợp chán ăn, mệt mỏi khó tiêu, ngộ độc, da huyết, tạng khớp, ít nước tiếu, suy mật, giòn mao mạch, chứng sốt và bệnh phổi. Vỏ hạt có pecin dùng làm thuốc cầm máu. Hoa bưởi được dùng để cất tinh dầu thơm, dùng trong công nghiệp sản xuất bánh kẹo.
Cách dùng:
Vỏ quả và lá được dùng uống trong dưới dạng thuốc sắc, mỗi ngày dùng 10 - 15g. Dịch quả dùng uống trong, ngày uống 3 lần trước các bữa ăn.
- Lá dùng ngoài không kể liều lượng. Người ta dùng nướng chín để nắn, xoa bóp hay nấu nước xông và ngâm để chữa sưng chân do hàn thấp, chướng khí, bong gân, gãy xương do ngã, chấn thương; còn dùng chữa đau bụng do lạnh. Hạt bưởi bỏ vỏ ngoài, nướng chín đem nghiền thành bột dùng bôi chốc lở da đầu. ngày 2 lần, trong 2 - 3 ngày.
Chữa viêm loét dạ dày hành tá tràng: Hạt bưởi để cả vỏ cứng 100g, rửa sạch cho vào một cốc thuỷ tinh to, rót vào 200ml nước sôi, đậy kín, ủ nóng trong 2 - 3 giờ. Hạt bưởi sẽ tiết ra một chất nhầy làm cho cốc nước đặc, sánh như nước cháo đặc, gạn bỏ hạt lấy nước uống sau bữa ăn khoảng hai giờ. Mỗi ngày uống một lần. Hàng ngày làm uống liên tục đến khi nào thấy hết đau thì thôi. Thường uống như vậy từ 5 - 7 ngày người bệnh sẽ thấy dễ chịu và hết đau.

Để chữa ho nhiều đờm. hãy nhai cùi (liền cả vỏ) phật thủ tươi, nuốt dần nước. Đờm sẽ tan dần và khí đỡ xông ngược lên, nhờ vậy mà hết ho. Cũng có thể lấy phật thủ tươi 30g (khô 10g). đường phèn 15g, hấp cách thủy khoảng nửa giờ rồi chia 2-3 lần ăn trong ngày.
Theo Đông y, phật thủ vị cay, đắng, chua, tính ấm, có tác dụng chỉ thống, hóa đàm, dùng chữa các chứng ăn không tiêu, đầy bụng, đau dạ dày, đau gan, cổ họng nghẹn tắc, ngực tức đầy. mạng sườn trướng đau... Các nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy, phật thủ có tác dụng giải trừ sự co thắt cơ trơn, hạ huyết áp, cắt cơn hen và tăng cường chức năng tiêu hóa.
Để sử dụng làm thuốc, khi hái quả về nên thái dọc thành từng miếng mỏng, phơi hoặc sấy khô. bảo quản nơi khô ráo, dùng dần. Sau đây là một số ứng dụng cụ thể:
- Chữa nấc, ăn vào nôn ngược trở ra: Lấy vỏ quả phật thủ tươi cắt nhỏ, trộn đều với đường, ăn ngày 3-4 lần, mỗi lần vài miếng, nhai rồi nuốt dần.
- Viêm khí quản mạn tính: Phật thủ khô 6g, bán hạ chế gừng (tẩm nước gừng sao vàng) 6g, sắc với nước, pha thêm chút đường để uống.
- Ăn không tiêu, gan và dạ dày đau tức: Có thể dùng một trong những phương thuốc sau:
+ Phật thủ tươi 12-15g (khô 6g), hãm với nước sôi uống thay trà trong ngày.
+ Phật thủ khô, huyền hồ sách mỗi thứ 6g, sắc với nước, chia 2-3 lần uống trong ngày.
+ Phật thủ khô 6g, thanh bì 9g, xuyên luyện tử 6g, sắc với nước, chia 2-3 lần uống trong ngày.
- Chữa đau dạ dày do lạnh: Phật thủ khô 15g, gạo tẻ sao vàng 30g, sắc nước uống ngày 3 lần.
Bạn có thể xem: 26 Thực phẩm tốt nhất cho người bị bệnh dạ dày (Phần 1)
Bạn có thể xem: 26 Thực phẩm tốt nhất cho người bị bệnh dạ dày (Phần 2)