
Giá trị dinh dưỡng của hồng rất phong phú, so với táo, hàm lượng kẽm và đồng trong táo là cao hơn hồng, còn các thành phần khác thì hồng chiếm ưu thế hơn. ở nước ngoài có câu: "Ăn táo hằng ngày thì bác sĩ phải xa bạn". Nhưng về việc đề phòng xơ cứng động mạch tim thì công năng của hồng còn vượt xa táo, cho nên ăn táo hằng ngày cũng không bằng ăn hồng hằng ngày.
Quả Hồng còn có một đặc điểm nữa là chứa iốt, cho nên những người bị bướu cổ do thiếu iốt có thể ăn hồng để bổ xung iốt. Người bình thường ăn hồng thường xuyên sẽ đề phòng được thiếu iốt.
Hồng bổ phổi và dạ dày, có thể giải rượu, chữa ho, nhuận tràng, thanh nhiệt, cầm máu và lại chống đói.
Hồng khô có tác dụng nhuận tràng, bổ phổi, cầm máu.
Những người dùng thích hợp:
Dùng thích hợp với những người có công năng tì vị tiêu hóa bình thường.
Lượng dùng: Mỗi ngày ăn một quả (khoảng 100g).
Chú ý:
Không nên ăn lúc đói, chỉ nên ăn sau khi bữa ăn cơm. Khi ăn hồng cố gắng ít ăn vỏ.
Lớp bột trắng bên ngoài hồng khô là tinh hoa của hồng không nên vứt bỏ. Ăn hồng khi đói dễ gây sỏi ở dạ dày.
Hồng chứa tanin dễ kết hợp với sắt, từ đó gây cản trở cho việc hấp thu sắt của các thức ăn, cho nên những người thiếu máu nên ăn ít hồng.
Hồng và cua đều là thức ăn hàn lạnh cho nên không ăn cùng với nhau.
Những người viêm dạ dày mãn tính, tiêu hóa kém, mổ cắt dạ dày... không nên ăn hồng. Hồng chứa nhiều đường, bệnh nhân tiểu đường không nên ăn.
Vitamin
Vitamin A: 20µg; Vitamin B1: 0,02mg; Vitamin B2: 0,02mg; Vitamin B6: 0,06mg; Vitamin C: 30mg; Vitamin E: 1,12mg; Axit pantothenic: 0,26mg; Niacin: 0,3mg; Caroten: 0,12mg; Axit folic: 18µg; Biotin: 63µg
Chất khoáng
Canxi: 9mg; Sắt: 0,2mg; Phốt pho: 23mg; Kali: 151mg; Natri: 0,8mg; Đồng: 0,06mg; Ma-giê: 19mg; Kẽm: 0,08mg; Selen: 0,24µg