
Vitamin C trong táo là thần hộ mệnh của huyết quản tim, là nguyên tố bảo vệ sức khoẻ cho bệnh nhân bệnh tim.
Những người ăn táo tương đối nhiều thì tỉ lệ bị cảm cúm thấp hơn mấy lần so với những người ăn ít hoặc không ăn táo, cho nên có nhà khoa học và bác sĩ gọi táo là "bác sĩ đa khoa". Hiện nay, không khí ô nhiễm tương đối nặng, ăn nhiều táo có thể cải thiện được công năng phổi và hệ thống hô hấp, bảo vệ phổi tránh khỏi bị ảnh hưởng của ô nhiễm và khói bụi.
Chất keo (pectin) và nguyên tố vi lượng crom trong táo có thể giữ đường huyết ổn định, cho nên táo không chỉ là món ăn vặt của bệnh nhân tiểu đường mà còn là trái cây không thể thiếu được đối với tất cả những người muốn không chế mức đường huyết. Và nó còn giảm được cholesterol rất rõ rệt.
Táo còn có thể phòng ung thư, đề phòng ngộ độc chì.
Đông y cho rằng: táo bổ phổi, bổ tì vị, dưỡng khí bổ tim, giải nhiệt, giải rượu...
Những người dùng hợp lí:
Rất thích hợp dùng cho trẻ nhỏ, người già và người bệnh.
Hiện nay, nhịp sống ở thành phố rất căng thẳng, cán bộ công chức bị áp lực công việc và cuộc sống rất lớn, lúc này cầm quả táo trên tay ngửi rồi ăn, có lẽ sẽ làm giảm căng thẳng, đầu óc sẽ tỉnh táo hơn.
Phụ nữ mới mang thai, mỗi ngày ăn 1 quả táo sẽ giảm bớt phản ứng thai nghén.
Lượng dùng:
Mỗi ngày ăn 1 - 2 quả táo.
Nam giới ăn táo phải nhiều hơn nữ, vì táo có tác dụng giảm cholesterol.
Chú ý:
Dinh dưỡng trong táo rất phong phú. Khi ăn táo phải ăn chậm nhai kĩ, như vậy không chỉ có lợi cho tiêu hoá mà còn giảm bệnh tật.
Không nên ăn táo trước khi ăn cơm, để tránh ảnh hưởng đến ăn uống và tiêu hoá bình thường. Táo chứa nhiều đường và muối kali, những người viêm thận và bệnh tiểu đường không nên ăn nhiều.
Vitamin
Vitamin A: 100µg; Vitamin B1: 0,01mg; Vitamin B2: 0,03mg; Vitamin B6: 0,06mg; Vitamin C: 8mg; Vitamin E: 1,46mg; Axit pantothenic: 0,09mg; Niacin: 0,1mg; Caroten: 600mg; Axit folic: 5µg; Biotin: 60µg
Chất khoáng
Canxi: 11mg; Sắt: 0,1mg; Phốt pho: 11mg; Kali: 2mg; Natri: 0,9mg; Đồng: 0,06mg; Ma-giê: 5mg; Kẽm: 0,01mg; Selen: 1µg